Chương 859
Chương 859: Đông Nhạc, ngươi cuối cùng cũng đến rồi!
Đăng ngày 30/09/2026
19
Tà linh thổi đèn, quỷ khiêng quan!
Đó là cảnh tượng khác mà Trai Ngõa từng thấy trong lúc làm lễ tế. Khi thấy cảnh đó, ông còn nhìn ra một thảm cảnh khác: cả bản làng ai nấy đều bị mổ bụng moi sạch ruột gan, treo lủng lẳng trên cái cây lớn cạnh miệng giếng cổ.
Giờ tà linh thổi đèn đã xuất hiện, còn quỷ khiêng quan thì sao?
Trai Ngõa bất giác nhìn ra ngoài công đường. Trưởng thôn đã cho người châm đèn dầu trên bàn thờ, nhưng ngọn đèn vừa thắp lên đã bị thổi cho leo lét, chực tắt. Dù cậu thanh niên châm đèn có khum tay che chắn cũng chẳng ăn thua.
Trông thấy ngọn đèn dầu sắp lụi, Trai Ngõa kịp thời bước tới. Ông rút từ sau bàn thờ ra một lá cờ tế, cắm ngay cạnh ngọn đèn.
Ngọn đèn miễn cưỡng giữ được, nhưng bấc lửa vẫn chao đảo qua lại.
Thấy bấc đèn đứng lại, Trai Ngõa mới hơi thở phào.
Lửa là sự tiếp nối của văn minh, cũng là khởi nguồn của loài người.
Từ khi biết dùng lửa, loài người mới thực sự có được văn minh. Thế nên trong tiềm thức, ngọn lửa vỗ về lòng người nhất. Nhất là vào lúc này, ánh sáng từ cây đèn dầu mang lại tia hy vọng cho bà con trong bản.
Ông rời khỏi bàn thờ. Tà linh đã thổi đèn, lát nữa quỷ khiêng quan ắt sẽ xuất hiện. Vì cả bản, ông phải ra đứng chốt ở phía trước nhất.
Trước đó, ông phải cho người dán đồ trừ tà khắp công đường.
Ông kéo ngăn kéo dưới bàn thờ, lấy ra xấp phù chú đã vẽ sẵn. Mấy lá bùa này không giống bùa thường thấy trong Huyền Môn, bên trên toàn là ký hiệu tượng hình kỳ dị: voi, sói, hổ, rồi cả nhật, nguyệt, non, nước...
Người Cảnh Pha sùng bái tự nhiên, tin rằng vạn vật hữu linh, nên khi vẽ bùa, họ mượn hình tượng những linh hồn mình tôn kính phụng thờ.
Trai Ngõa phát bùa cho mấy thanh niên, bảo họ lập tức dán kín các vách tường cùng cửa lớn, cửa sổ.
Dặn dò xong, ông rút ra một chuỗi hạt xương từ bên dưới dãy bài vị. Cầm chuỗi hạt, Trai Ngõa nhìn lên các bài vị, sắc mặt phức tạp. Ở chính giữa hàng bài vị có một tấm gỗ để trống.
Đó là quy củ của tộc này. Bài vị ở giữa dành cho Trai Ngõa đương nhiệm. Mỗi đời Trai Ngõa chỉ sau khi chết đi, tên thật mới tự động khắc lên tấm bài vị đó.
Trai Ngõa thở dài. Kể từ khi kế vị, tên thật của ông đã ngót ba mươi năm không ai gọi đến.
Nếu hôm nay mình chết ở đây, tấm bài vị này chắc sẽ hiện tên mình lên thôi.
Ông ngoái nhìn đồng bào trong bản, lại thở dài trong lòng.
Đổi một mạng mình lấy sự sống còn cho cả bản, vụ này coi như quá hời.
Trai Ngõa giơ tay, nhỏ một giọt máu lên bài vị trống.
Giọt máu vừa chạm vào mặt gỗ liền bị tấm bài vị hút cạn, không để lại chút dấu vết.
Trai Ngõa cầm cây kèn sona trên bàn thờ lên.
Ngàn năm tỳ bà, vạn năm tranh, một tiếng kèn sona tiễn trọn một đời.
Cây kèn này là di vật của đời Trai Ngõa trước để lại cho ông.
Thổi vang cây kèn này cũng đồng nghĩa mạng sống của ông đi đến hồi kết.
Ánh mắt ông ánh lên nét kiên quyết. Ông cầm kèn bước ra ngoài cửa công đường, đứng sừng sững trước thềm.
Bỏ ngoài tai mọi lời can ngăn, ông chậm rãi khép cửa lớn công đường lại.
Tiếng cửa đóng sập nghe như một tiếng thở dài tang tóc.
Nét mặt Trai Ngõa thoáng vẻ bi tráng.
Ông xoay người nhìn bản làng nơi chôn nhau cắt rốn, từng tấc đất đều thân thuộc đến nao lòng.
Vừa thu hồi tầm mắt, trong bản bỗng vang lên tiếng chiêng trống cùng tiếng kèn sona quái dị.
Sương mù cuồn cuộn dâng lên. Một cỗ quan tài đỏ lòm được bốn hình nhân giấy lắc lư khiêng xuyên qua màn sương đặc, chầm chậm tiến về phía công đường.
"Đến giờ lên đường rồi!"
Giọng nói lạnh lẽo vọng ra từ bên trong quan tài.
Mặt Trai Ngõa không đổi sắc. Ông nâng kèn bằng hai tay, từ từ đưa lên miệng.
"Đến giờ lên đường rồi..."
Lại một tiếng gọi u hàn nữa vang lên.
Dứt tiếng gọi, trên mái hiên của những ngôi nhà quanh công đường bỗng xuất hiện vô số con mèo. Mắt chúng lập lòe tia sáng đỏ như máu, đồng loạt nhìn chòng chọc vào Trai Ngõa.
...
Nhạc Đông đã xuống tới đáy giếng. Hắn bấu một tay vào mỏm đá nhô ra, treo mình lơ lửng trên vách giếng.
Bên cạnh hắn, Trấn Uyên Thần Quy giơ chân trước lên, vỗ vỗ vào phiến đá xanh trước mặt đầy vẻ con người, như thể giục Nhạc Đông cạy chỗ đó ra.
"Mày bảo tao ấn vào đây, hay là rút phiến đá này ra?"
Trấn Uyên Thần Quy nhìn Nhạc Đông bằng ánh mắt chê bai, vẻ mặt đầy bất lực. Nó giơ hai chân trước lên làm động tác kéo ra ngoài. Vừa làm xong, cả thân rùa mất điểm tựa, quờ quạng một hồi rồi rơi thẳng tắp xuống đáy giếng.
Nhạc Đông nhanh tay lẹ mắt tóm lấy nó, đặt lên vai mình.
"Cái ánh mắt đó là ý gì hả?"
Lần đầu tiên bị thú cưng của mình khinh bỉ, Nhạc Đông lắc đầu bất đắc dĩ.
Đậu trên vai Nhạc Đông rồi, Trấn Uyên Thần Quy bám chặt móng vào vạt áo hắn, vẻ mặt quyết không buông tay dù có chết.
Thấy nó đã bám chắc, Nhạc Đông một tay nắm lấy phiến đá xanh, giật mạnh ra ngoài.
Rắc một tiếng.
Phiến đá xanh bị hắn bẻ gãy ngang.
Một mẩu đá nằm trong tay hắn, nửa còn lại vẫn găm chặt trên vách giếng.
Nhạc Đông đen mặt. Không phải do hắn dùng sức quá đà, mà cái giếng này niên đại quá lâu, gạch đá bên trong qua năm tháng đã bắt đầu mục nát.
Muốn rút nửa còn lại thì phải cạy bớt gạch xung quanh. Nhạc Đông vừa định ra tay, đến giây cuối cùng lại khựng lại.
Cục gạch này có vấn đề!
Gạch dưới giếng lẽ ra phải ẩm ướt, đằng này thân gạch lại khô ráo lạ thường. Đáng ngờ hơn nữa là độ ấm tỏa ra từ nó hoàn toàn không bình thường.
Lúc này trong giếng rất lạnh, nhưng sờ vào viên gạch lại thấy ấm tay.
Đúng lúc Nhạc Đông nhận ra điểm bất thường, dưới đáy giếng bỗng vọng lên tiếng hát du dương.
Tiếng hát mộc của một người phụ nữ. Giọng ca không hề u ám, ngược lại rất êm tai.
Chẳng biết tự bao giờ, trên bầu trời phía miệng giếng lại hiện ra một vầng trăng khuyết. Vầng trăng không đỏ như máu mà trong trẻo, vằng vặc như bình thường.
Ánh trăng rọi qua miệng giếng chiếu xuống, tiếng hát dưới đáy giếng mỗi lúc một gần.
"Lòng nhớ người người đâu có hay, biết khi nào đặng cánh liền bay..."
Tiếng hát càng lúc càng gần, mặt nước giếng vốn phẳng lặng bỗng gợn sóng lăn tăn.
Giây tiếp theo, một bóng hồng hiện lên trên mặt nước.
"Đông Nhạc, anh cuối cùng cũng tới rồi!"
