Chương 25
Chương 25: "Nữ thần độc ác" Khắc La Đa Chu
Đăng ngày 27/09/2026
19
Tên đầy đủ của Khắc La Đa Chu là "Khắc La Đa · Đức Đỗ Lãng". Cái tên này ẩn chứa nhiều ngụ ý, cần phải tốn chút công sức mới giải thích tường tận được. "Khắc La Đa" là tên của vị nữ thần dệt nên số mệnh trong thần thoại, điều này hẳn nhiều người đã biết, nhưng ba chữ "Đức Đỗ Lãng" thì lại hiếm ai hay.
Nếu không nhờ có Khắc La Đa Chu, người biết đến cái tên ấy chắc còn ít hơn nữa. Đức Đỗ Lãng là người đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu loài nhện này với thế giới, bởi vậy sinh vật bé nhỏ kia mới kế thừa tên gọi của người phát hiện vĩ đại ấy. Bằng không, e rằng tiên sinh Đức Đỗ Lãng đang an nghỉ dưới đám cải lông và cẩm quỳ đã sớm bị người đời lãng quên rồi.
Lấy tên người đặt cho côn trùng, cây cỏ, hay sông núi, thậm chí cả cầu cống cùng những tòa nhà cao tầng quả là một cách thông minh tuyệt đỉnh. Như thế, chủ nhân của những cái tên ấy coi như nhận được một tấm giấy thông hành do tự nhiên hay xã hội loài người ban tặng, bước vào vòng luân hồi bất diệt của số phận — dẫu người đời chẳng biết gì về sự tích lúc sinh thời của họ, nhưng cái tên thì vẫn được ghi nhớ khắc sâu. So với họ, những kẻ lặng lẽ rời khỏi thế gian rồi vĩnh viễn chẳng còn ai nhắc tới quả thật quá đỗi bất hạnh và bi ai. Thảo nào lại có biết bao người khao khát đem tên mình đặt cho muôn loài trong kho báu sự sống.
Dẫu chỉ là một sinh vật nhỏ bé như Khắc La Đa Chu, cũng có thể biến một cái tên vốn bình thường trở nên rực rỡ ngút ngàn. Con người ta có thể nhờ cậy một ngọn cỏ, một con sâu yếu ớt, hay thậm chí một lớp rêu phong trên cành cây già để giữ cho con thuyền sinh mệnh của mình mãi mãi không chìm. Trên thế gian này, chẳng còn gì thích hợp làm bia mộ hơn mạng nhện, cánh cứng kim quy và vỏ ốc sên. Cho dù là văn bia khắc trên đá hoa cương kiên cố cũng sẽ dần phai mờ theo dòng chảy thời gian, thế nhưng những dòng chữ khắc ghi trên cánh bướm, râu ong, hay chân nhện thì vĩnh viễn chẳng thể mất đi. Dẫu mai này loài côn trùng ấy có tuyệt chủng, chúng vẫn sẽ được ghi chép trong các trước tác học thuật, tiếp tục sống trong ký ức truyền đời của nhân loại. Nói như thế, tiên sinh Đức Đỗ Lãng quả thực là một người may mắn.
Vậy thì, cớ sao các nhà sinh vật học lại chọn "Khắc La Đa" — tên của nhân vật chính trong một truyền thuyết thần thoại đi ngược lại với khoa học tự nhiên — để đặt cho loài nhện? Chẳng lẽ chỉ vì một phút ngẫu hứng? Những nhà khoa học cẩn trọng đương nhiên sẽ không làm chuyện ngớ ngẩn như vậy.
Trong thần thoại cổ đại, Khắc La Đa là vị nữ thần nhỏ tuổi nhất trong ba nữ thần Số Mệnh. Nàng không nắm giữ sinh tử, nhưng lại dựa vào con thoi trong tay để chi phối vận mệnh loài người. Phần lớn thời gian, nàng dùng đám lông vụn thô ráp quấn quanh con thoi để dệt nên số kiếp nhân gian, chỉ số ít kẻ may mắn mới được ban cho một sợi chỉ vàng. Tơ do loài nhện nhả ra tuy không ảnh hưởng đến số mệnh con người, nhưng lại đủ sức quyết định sinh mạng của chính nó. Vì thế, dùng cái tên "Khắc La Đa" để miêu tả một thợ dệt tự đan kết cuộc đời mình quả thực hết sức thỏa đáng.
Khắc La Đa Chu sở hữu thân hình duyên dáng cùng bộ áo lộng lẫy, điều này có lẽ cũng tương đồng với vị ác thần chưa từng gặp mặt kia. Tuy tôi biết chúng sống ở xứ sở của cây ô liu, song muốn tìm thấy chúng lại chẳng phải chuyện dễ dàng. Chúng có thể sống trên những sườn đồi bị nắng nung thiêu đốt, có thể nấp dưới những phiến đá bằng phẳng to lớn, cũng có thể ẩn mình dưới đống đá cao ngất mà đám mục đồng dùng làm ghế ngồi... Đương nhiên, cũng có khả năng bạn lật tung hết những nơi ấy mà chẳng thấy lấy một bóng nhện, bởi lẽ không phải chỗ nào cũng thích hợp cho nó sinh tồn.
Tuy hiếm thấy, nhưng không có nghĩa là bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được. Giả sử lòng kiên trì của bạn lọt vào mắt xanh của thần May Mắn, biết đâu nó sẽ xuất hiện ngay dưới phiến đá tiếp theo mà bạn vừa lật lên.
Khi tôi lật phiến đá của mình lên, đập vào mắt đầu tiên chẳng phải Khắc La Đa Chu, mà là một kiến trúc thô ráp to chừng nửa quả cam. Công trình này có hình dáng kỳ dị, kiến trúc sư đã dày công thiết kế nên một ngôi nhà úp ngược, thế nên thứ ta nhìn thấy là một mái vòm hình tròn đảo ngược. Kỳ lạ hơn nữa là đồ trang trí của ngôi nhà này chẳng phải chậu cảnh, đèn tường hay đồ gỗ quen thuộc, cũng không phải tranh sơn dầu hoa lệ hay nhạc cụ thanh nhã, mà lại là những cục đất bẩn thỉu và vỏ ốc sò. Chừng ấy vẫn chưa đủ khiến người ta kinh ngạc; nếu bạn nhìn thấy những xác côn trùng khô quắt dính trên những sợi tơ rủ xuống từ mái vòm, tôi tin chắc bạn sẽ không kìm được mà hét toáng lên.
Mái vòm úp ngược này được cố định vào đá bằng tơ nhện. Khắc La Đa Chu đan mười hai mấu nhô ra dán chặt vào phiến đá, tổng thể tỏa ra như hình nan hoa. Do có nhiều sợi tơ treo đầy vật trang trí bám bên dưới nên mái vòm trĩu xuống, các mấu nhô trông tựa những dây đai vững chắc. Giữa chúng là một tấm mạng nhện phẳng căng khít, đóng vai trò như chiếc trần bằng bịt kín túp lều lộn ngược. Vị kiến trúc sư tài ba đã khéo léo giấu nhẹm cửa ra vào, khiến cho công trình thoạt nhìn như thể chẳng hề có lối thông giữa trong và ngoài.
Nhưng Khắc La Đa Chu không thể nào chẳng bao giờ ra ngoài kiếm ăn, săn được mồi rồi cũng phải về nhà chứ, rốt cuộc nó đã giấu cửa ở chỗ nào? Tôi quan sát hồi lâu vẫn không tìm ra manh mối, cuối cùng đành quyết định dùng một cọng rơm lúa mì để giải tỏa nỗi thắc mắc trong lòng.
Tôi dùng cọng rơm chọc chọc vào chỗ tiếp giáp giữa trần bằng và túp lều tròn, nhận thấy các vòm cuốn này đều rất cứng, hơn nữa mối nối khít khao không một kẽ hở, như thể được khâu bởi bàn tay của người thợ may tài hoa nhất. Cuối cùng, tôi đã tìm ra một cơ quan huyền diệu trong mười hai vòm cuốn ấy: ngoài việc mép ngoài chia làm hai cánh, đường viền hình lưỡi liềm này nhìn không khác mấy so với các vòm còn lại, nhưng ngay chỗ giáp nhau giữa hai cánh lại có một khe hở gần như không thể nhận ra, và Khắc La Đa Chu chính là ra vào bằng khe này. Mỗi khi nó đi qua, độ đàn hồi của tơ nhện sẽ khiến cánh cửa tự động khép lại. Ngoại trừ chủ nhân, ai mà ngờ được lối vào bí mật của kiến trúc này lại nằm ở đây cơ chứ? Chuyến thám hiểm kỳ thú này gợi tôi nhớ đến một loài nhện khác từng quan sát trước đây — Mãnh Chu. Miệng hang của Mãnh Chu cũng có một chiếc nắp cử động được, sau khi chui vào nó có thể dùng tơ cài cửa lại, tựa như khóa bằng bản lề. Nàng thợ dệt Khắc La Đa Chu chẳng hề thua kém Mãnh Chu chút nào, tuy cũng dùng chung một cách thức — về đến nhà liền dùng then cài (vài sợi tơ nhện) dán chặt hai cánh cửa — nhưng trên thực tế tổ của Khắc La Đa Chu còn an toàn hơn Mãnh Chu, bởi cấu trúc ngôi nhà của nó vô cùng kỳ lạ, cả mười hai vòm cuốn dường như vòm nào cũng có thể là lối vào.
Khi đụng phải kẻ thù, Khắc La Đa Chu chỉ cần chạy thục mạng về nhà chui tọt vào trong, cánh cửa phía sau sẽ tự động khép lại, nó còn có thể khóa cửa từ bên trong. Còn những kẻ địch không nắm rõ đường đi nước bước ắt sẽ bị ngần ấy cánh cửa y hệt nhau làm cho bối rối, loanh quanh nửa ngày cũng chưa chắc phát hiện ra bí mật biến mất không dấu vết của con mồi.
Chân của Khắc La Đa Chu khá ngắn, màu da sẫm, trên lưng có năm đốm vàng trông tựa năm tấm huy chương màu vàng, bởi thế người thợ dệt này nhìn qua lại giống một vị quý ông. Quý ông Khắc La Đa rất mực khắt khe với điều kiện nơi ở. Trong tổ của nó thường có một búi tơ nhện, mềm mại êm ái tựa vải nỉ molleton, đó chính là chiếc chăn của nó; Khắc La Đa Chu sẽ nghỉ ngơi ở giữa lớp vải nỉ ấy và chiếc trần bằng.
Khi nghỉ ngơi, vị quý ông cũng đòi hỏi điều kiện môi trường xung quanh rất cao, nó giống như con người, không thể nào chịu nổi cảnh bị đánh thức giữa giấc ngủ say. Vào những ngày thời tiết thất thường, nếu gió luồn qua khe đá thổi vào, túp lều nhỏ có thể sẽ chao đảo rung lắc trong gió, khó lòng giữ được trạng thái thăng bằng tuyệt đối, nhưng Khắc La Đa Chu đã nghĩ ra cách giải quyết chuyện này. Trước đó chúng ta đã nhắc tới việc bên ngoài túp lều tròn úp ngược có rất nhiều sợi tơ rủ xuống, và đó chính là bí quyết giúp ngôi nhà đứng vững trong gió bão.
Những sợi tơ này phần lớn rủ xuống từ chỗ kết nối giữa các mấu nhô và phiến đá. Sau khi Khắc La Đa Chu dùng tơ gắn chặt các mấu vào đá, thứ tơ dùng làm chất kết dính này sẽ kéo dài ra một đoạn, chừng một gang tay, sắp xếp đều đặn và dày đặc, tác dụng chẳng khác nào dây neo thuyền buồm, hoặc cọc gỗ cùng dây thừng mà người Bedouin dùng để ghì chặt lều trại. Liệu đây có phải là toàn bộ nguyên nhân giúp ngôi nhà không bị gió hất tung? Ôm mối hoài nghi ấy, tôi càng quan sát ngôi nhà kỹ càng hơn.
Trái ngược hoàn toàn với vẻ sạch sẽ ngăn nắp bên trong ngôi nhà, những sợi tơ rủ xuống bám đầy rác rưởi: cục đất nhỏ, vụn gỗ mục, sỏi vụn, cùng xác của các loài côn trùng khác, khiến sân vườn của Khắc La Đa Chu trông chẳng khác gì bãi rác hay bãi tha ma. Rõ ràng đống xác ấy là tàn tích sau những bữa ăn của Khắc La Đa Chu, trong đó có bọ cánh cứng Opatrum, bọ Asida, cuốn chiếu đỏ, Toái phong, cùng vỏ của ốc Pupa. Những cái xác này, có cái đã khô quắt chẳng còn ra hình thù gì, có cái gãy thành từng đoạn, lại có cái đã bị nắng phơi trắng bệch.
Phải chăng Khắc La Đa Chu khảm những xác chết ấy lên bức tường ngoài của ngôi nhà, hoặc chất đống trong sân là để dọa nạt kẻ thù? Giả thuyết này hiển nhiên còn nhiều nghi vấn: đám xác chết đó có thể căn bản chẳng dọa lui được kẻ địch, trái lại còn làm con mồi kinh sợ bỏ chạy, như vậy độ khó khi săn mồi chẳng phải sẽ tăng lên gấp bội sao? Khắc La Đa Chu thông minh ắt sẽ không làm chuyện ngốc nghếch đến thế, việc nó treo rác rưởi và xác côn trùng ngoài nhà ắt hẳn còn có mục đích khác.
Ngay sau đó, tôi lại phát hiện thêm vài nghi vấn càng khiến mình bối rối hơn. Dẫu cảm thấy không mấy dễ chịu, tôi vẫn cẩn thận quan sát đống xác kia; những chiếc vỏ ốc nhỏ treo trên sợi tơ đa phần đã rỗng không, song cũng có vài chiếc vỏ mà loài thân mềm bên trong vẫn còn sống. Nói cách khác, việc Khắc La Đa Chu bắt giữ loài ốc Pupa màu xám hay Pupa quadridens này, cùng những sinh vật thu mình trong vỏ ốc hay vỏ ốc tháp khác, không hoàn toàn là để no bụng, thậm chí có khả năng nó chẳng hề thích ăn khối thịt nhầy nhụa bên trong kia. Nếu giả thuyết ấy là đúng, rốt cuộc mục đích của nó là gì?
Những nghi vấn liên tiếp nảy sinh mang lại cho tôi khoái cảm như đang lần theo dấu vết để phá một vụ án. Tôi nóng lòng muốn vén màn bí mật, mà cách tốt nhất để kiểm chứng mọi suy đoán và tìm ra lời giải cuối cùng chẳng gì hơn là làm thí nghiệm.
Tôi dùng một con dao nhỏ cắt đứt những sợi tơ bám vào vách đá, hết sức cẩn thận để không làm rung mạng, sợ kinh động tới gã lười biếng đang trú ngụ bên trong. Thường thì Khắc La Đa Chu sẽ ẩn mình rất lâu dưới đáy tổ, nó vốn chẳng thích ra ngoài nên cũng hiếm khi chạy trốn. Cuối cùng, tôi bỏ trọn con Khắc La Đa Chu cùng cả căn nhà của nó vào một ống giấy rồi mang về nhà.
Tất nhiên tôi chẳng dại gì mà khuân luôn phiến đá nặng trịch kia về. Về đến nhà, tôi thay thế nó bằng một chiếc giỏ đan bằng cành liễu. Tôi đặt chiếc giỏ lên bàn, dùng băng dính cố định túp lều vòm úp ngược ấy lên khung giỏ, rồi dùng ba que gỗ ngắn để chống đỡ. Về sau, tôi còn thử dùng hộp phô mai để thay thế đá tảng, chỉ cần trong quá trình di chuyển chú ý không gõ đập hay lắc mạnh thì con nhện vẫn sẽ ngoan ngoãn ở yên trong nhà mình.
Làm xong những việc đó, tôi úp lên căn nhà nhỏ một chiếc hũ sành có nắp lưới kim loại, vừa ngăn Khắc La Đa Chu dọn đi nơi khác, lại vừa có thể quan sát nó ở cự ly gần.
Trước đây tôi từng thấy loài nhện nhà chăng tơ nơi góc tường nhặt nhạnh vài vật nặng, chẳng hạn như lớp vữa rơi từ vách xuống, gắn vào mạng để chắn gió thổi làm biến dạng. Điều này khiến tôi ngờ rằng những thứ rác rưởi trên mạng Khắc La Đa Chu cũng chỉ được nó dùng làm con chì để giữ thăng bằng mà thôi. Sang ngày thứ hai sau khi chuyển Khắc La Đa Chu về nhà, mối hoài nghi của tôi đã được kiểm chứng.
Dù tôi đã hết sức cẩn thận trong quá trình di dời, căn nhà nhỏ của Khắc La Đa Chu vẫn có vài chỗ biến dạng nghiêm trọng. Vị chủ nhân khó tính vừa phát hiện ra liền bám suốt đêm trên lớp lưới mỏng, nhất quyết không chịu bước vào căn nhà vốn dĩ êm ấm và an toàn của mình. Sau một hồi nghỉ ngơi, nó bắt đầu dựng lại nơi ở mới, công việc kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ. Túp lều mới dựng xong chỉ to bằng đồng xu hai franc. Dù cấu trúc tổng thể vẫn giống như chốn cũ, gồm hai tầng lưới trên dưới và mười hai góc nhô ra, nhưng do nó chưa kịp đính thêm vật nặng dằn xuống tầng lưới dưới nên khe hở giữa hai tầng vô cùng chật hẹp, Khắc La Đa Chu đành tạm thời nép mình trong khoảng không gian tù túng ấy.
Vốn quen sống trong căn nhà rộng rãi, Khắc La Đa Chu rất không hài lòng. Chẳng bao lâu sau, nó lại tất bật bận rộn, bắt đầu gắn thêm vật dằn cho công trình. Nó nhả tơ, dán những sợi tơ mảnh ấy vào tầng mạng dưới rồi buông thõng xuống, sau đó xâu từng hạt cát vào sợi tơ. Dưới sức nặng của cát, trọng tâm căn nhà hạ thấp xuống, lớp the mỏng bên trên nhờ thế mà căng phẳng ra. Cứ như vậy, căn nhà trở nên vững chãi, khoảng trống giữa hai tầng the cũng rộng rãi hơn hẳn. Khắc La Đa Chu dường như bẩm sinh đã thấu suốt quy luật cân bằng mà con người phải dày công nghiên cứu mới đúc kết được, nó quả thực là một kiến trúc sư thiên tài!
Đó mới chỉ là bước khởi đầu của công trình. Khắc La Đa Chu treo thêm một hòn sỏi lớn hơn vào đuôi chuỗi cát, rồi liên tục đính thêm nhiều thứ lên sợi tơ, từ hạt cát, viên sỏi, mạt gỗ cho đến xác côn trùng sót lại sau bữa ăn. Chúng đóng vai trò như những vật dằn, quả đối trọng và nẹp giữ, khiến căn nhà vốn dĩ mỏng manh kia ngày càng thêm phần kiên cố.
Để chứng minh tầm quan trọng của những vật dằn này, tôi đã bóc sạch toàn bộ đồ trang trí bên ngoài căn nhà đã hoàn thiện. Ngôi nhà trơ trụi dệt hoàn toàn bằng tơ trắng trông vô cùng đẹp mắt. Nhưng ngay cả tôi cũng thấy nó có phần lỏng lẻo chực sụp, huống chi là Khắc La Đa Chu sống bên trong. Nó mất liền mấy đêm để tu sửa lại nhà, cuối cùng, bên ngoài công trình lại rủ xuống chằng chịt những dải râu dài tựa nhũ đá, bên trên lại đính đầy cát mịn và xác côn trùng như cũ.
Qua quá trình này, tôi dần nhận ra việc Khắc La Đa Chu treo nhiều xác chết như vậy chẳng phải để khoe khoang chiến lợi phẩm, mà nó chỉ coi chúng như bùn đất hay sỏi đá vụn mà thôi. Dưới mắt nó, những vỏ ốc nhỏ và mảnh xác động vật đều là vật liệu xây dựng thượng hạng, vừa tiện dụng lại vừa dễ kiếm — thậm chí chẳng cần cất công tìm kiếm, chúng nằm ngay dưới chân nó. Việc tận dụng chúng dễ dàng hơn nhiều so với việc phải đi xa tha sỏi đá về, nên một kẻ thích lười biếng như Khắc La Đa Chu dĩ nhiên sẽ chọn xác chết để gia cố và trang hoàng cho tổ ấm mới của mình.
Khắc La Đa Chu vừa bận rộn chăm chút cho "khu vườn" bên ngoài, lại vừa tất bật trang hoàng nội thất bên trong. Nó không ngừng nhả tơ, biến bức vách mỏng ban đầu thành một lớp dạ molleton dày dặn, dĩ nhiên vẫn chừa lại một khoảng không gian rất rộng. Chỗ trống nó để lại lớn hơn nhiều so với nhu cầu sinh hoạt thực tế, chẳng lẽ là để thỉnh thoảng mở tiệc chiêu đãi khách khứa hay sao? Tôi từng hoài nghi như thế, nhưng sau nhiều lần lén mở cửa nhà nó ra xem, tôi tin chắc suy đoán của mình hoàn toàn sai bét.
Trong nhà nó, ngoài những con mồi đang giãy giụa trong tuyệt vọng thì vĩnh viễn chẳng thể thấy một vị khách nào. Phần lớn thời gian, sau khi đã no nê, Khắc La Đa Chu sẽ khoan khoái nằm bẹp trên tấm thảm tơ êm ái, chẳng làm gì cả, dường như cũng chẳng buồn suy nghĩ, nửa như đang ngủ, nửa lại như thức. Cô thợ dệt kiêm kiến trúc sư hiếm khi bước chân ra khỏi cửa này cứ thế lười nhác nằm ườn trong ổ, tận hưởng cuộc sống trong trạng thái mơ màng. Chẳng phải cuộc sống thảnh thơi nhường ấy là niềm mơ ước của biết bao người trong chúng ta sao? Đến tôi cũng suýt nữa ghen tị với nó rồi.
Ngoại trừ việc dùng một cọng cỏ trêu chọc để kéo nó ra khỏi cơn trầm tư, có lẽ chỉ có cơn đói cồn cào mới đủ sức thúc giục nó bước chân ra khỏi cửa. Tôi từng dành ra ba năm ròng để quan sát loài côn trùng này, gần như sớm tối ở bên nó trong phòng thí nghiệm, vậy mà chưa từng thấy nó đi săn vào ban ngày. Từ đó tôi đoán nó có lẽ là một kẻ chủ trương ăn kiêng, chỉ khi đói lả vào ban đêm mới rón rén ra ngoài kiếm ăn.
Muốn cùng nó thực hiện một chuyến viễn chinh, người ta phải kiên nhẫn chờ đợi giữa đêm khuya thanh vắng. Có một đêm vào khoảng hơn mười giờ, tôi thấy Khắc La Đa Chu xuất hiện trên nóc nhà bằng phẳng. Đoán rằng nó đang nấp ở đó để rình rập những con mồi vô tình đi ngang qua, tôi liền tràn trề kỳ vọng nín thở canh chừng bên cạnh. Nhưng có lẽ ánh nến tôi thắp lên đã làm nó kinh sợ, nó "vút" một cái chui tọt vào ổ, đợi mãi cũng không chịu ra nữa, tôi đành phải bỏ cuộc. Thế nhưng sáng hôm sau, một cái xác mới tinh treo lủng lẳng trên sợi tơ đã chứng minh rằng sau khi tôi rời đi, nó lại mò ra săn mồi và thu hoạch được một mớ kha khá. Khắc La Đa Chu cứ thế cẩn mật giữ kín bí mật săn mồi của mình, hệt như một thiếu nữ e ấp thẹn thùng.
Ngoại trừ một vài thu hoạch trong việc nghiên cứu căn nhà của nó, tôi biết rất ít về tập tính sinh hoạt của Khắc La Đa Chu, đến mức vào tháng mười khi phát hiện ra bọc trứng nhện ngoài tự nhiên, tôi hoàn toàn chẳng hay biết nhện mẹ đã đẻ trứng từ lúc nào và bằng cách nào. Tôi mang cả nhện mẹ lẫn bọc trứng về nhà. Số trứng ấy được chia đều vào năm sáu chiếc túi dệt bằng tơ, trông như được bọc trong những lớp lụa trắng thượng hạng. Những chiếc túi nhỏ dính chặt vào "sàn" nhà không tài nào gỡ ra được, nên tôi đành phải bưng luôn cả căn nhà của chúng về.
Chỗ trứng đó có chừng hơn một trăm hạt, chiếm gần hết không gian căn phòng. Nhện mẹ có vóc dáng nhỏ hơn bình thường một chút, tôi nghĩ có lẽ việc đẻ trứng đã khiến cơ thể nó hao gầy, nhưng may sao trông nó vẫn rất khỏe khoắn, bụng tròn căng và da dẻ săn chắc.
Nhện mẹ nằm phủ phục lên đống trứng như gà mẹ ấp trứng. Chưa đầy một tháng sau, lũ nhện con trong túi nhỏ đã nở ra, nhưng chúng vẫn phải sống trong túi trứng một thời gian dài. Tôi ghé sát mắt nhìn qua lớp màng mỏng, thấy lũ nhóc trông giống hệt mẹ: lớp da màu sẫm điểm năm đốm vàng, chỉ là kích thước nhỏ hơn mà thôi. Để vượt qua cả mùa đông lạnh giá, bầy Khắc La Đa Chu con nép chặt vào nhau như đang sưởi ấm cho nhau. Nhiệm vụ của nhện mẹ trong giai đoạn này hơi giống nhện cua, chỉ việc ngồi chồm hổm trên bọc trứng làm nhiệm vụ canh gác, ngăn kẻ thù làm hại con mình. Quá trình này kéo dài khá lâu, mất gần tám tháng trời, mãi tới tháng sáu năm sau mới kết thúc.
Sau chuỗi ngày dài chờ đợi, mùa hè rốt cuộc cũng sang. Khắc La Đa Chu mẹ may mắn hơn nhện cua ở chỗ, sau khi giúp bầy con xé rách vách bọc túi trứng, nó không hề mất mạng mà còn được tận mắt nhìn lũ nhóc chen lấn xô đẩy chạy lăng xăng khắp phòng, và chứng kiến chuyến di cư của chúng.
Lũ Khắc La Đa Chu con dường như sinh ra đã biết bí mật của cánh cửa, chúng ùa ra lối vào, mất vài giờ đồng hồ để chỉnh đốn và chuẩn bị hành trang, rồi nương theo làn gió nhẹ đầu tiên phất qua mà đu đưa sợi tơ xuất phát, bắt đầu một chuyến viễn du dài ngày đầy bất định.
Trông thấy con Khắc La Đa Chu già lẻ loi ở lại trong tổ, lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi xót xa. Nhìn bầy con dứt áo ra đi mãi mãi, người mẹ nào chẳng đau lòng khôn xiết, nhưng con Khắc La Đa Chu này dường như chẳng hề bận lòng trước tâm ý của tôi. Nó chẳng những không lộ chút buồn bã hay bất an nào, mà trông còn phơi phới rạng rỡ hơn. Dẫu vậy, để an ủi người mẹ ấy, tôi vẫn cẩn thận thả vào cho nó vài món mồi ngon lành.
Ngày hôm sau, điều khiến tôi bất ngờ là con Khắc La Đa Chu không còn ở trong chiếc tổ cũ nữa, trên nắp lưới kim loại đã xuất hiện phôi thô của một căn nhà mới khác. Hóa ra, nó chỉ nán lại căn nhà cũ một lát rồi dứt khoát vứt bỏ chốn xưa. Dù căn nhà ấy chẳng hề hư hại mảy may, nhưng dường như nơi đó vương lại ký ức đau buồn nào khiến nó không nỡ đối mặt, nó kiên quyết chọn cách rời đi, chẳng tiếc công sức nhọc nhằn dựng cho mình một gian nhà mới.
Thực ra, nguyên nhân khiến Khắc La Đa Chu chuyển nhà rất dễ nhận ra. Căn nhà cũ tuy còn nguyên vẹn và tiện nghi, nhưng lại tồn tại một khiếm khuyết nghiêm trọng. Sau khi nhện con nở ra, trong phòng chất đầy những bọc kén tàn dư, những chiếc bọc này dính chặt vào cả ngôi nhà, đến mức dùng nhíp gắp ra cũng vô cùng tốn sức, nhện mẹ Khắc La Đa Chu già nua lại càng không có cách nào tháo dỡ đống phế tích đã gắn liền thành một thể với căn phòng ấy. Không gian bên trong trở nên chật chội khôn cùng, dẫu rằng bấy nhiêu cũng đủ cho một con Khắc La Đa Chu sử dụng — cái kẻ lười biếng này có lẽ chỉ cần một khoảng trống đủ để xoay người là thỏa mãn, nhưng nó vẫn còn nhiệm vụ khác, nó còn phải tiếp tục sinh con, mà không gian chật hẹp này căn bản không thể nhét thêm túi trứng nào nữa.
Bất đắc dĩ, Khắc La Đa Chu đành phải bỏ lại đống phế tích đó, tốn thêm mấy ngày trời để dựng nên một tổ ấm mới giống hệt căn nhà cũ, việc này tuy tốn nhiều công sức, nhưng lại chẳng thể không làm. Khắc La Đa Chu chọn chuyển nhà hoàn toàn là vì những đứa con của mình! Nhìn từ góc độ này, nó quả thực là một người mẹ vĩ đại.
Tôi vốn muốn nghiên cứu nhiều hơn về Khắc La Đa Chu, muốn biết cả đời nó rốt cuộc đẻ trứng mấy lần, tuổi thọ khoảng bao lâu cùng nhiều chi tiết khác, nhưng vì còn việc khác phải làm, tôi không có đủ tinh lực để nuôi dưỡng chúng lâu dài, đành phải thả chúng về với tự nhiên. Còn về vấn đề bầy con của Khắc La Đa Chu ăn uống thế nào trong suốt tám tháng sống trong bọc trứng, rốt cuộc đã trở thành một bí ẩn chưa có lời giải, cũng là một niềm tiếc nuối của tôi.
Cũng giống như Khắc La Đa Chu, lũ con non của loài lang chu, Mê Cung Lậu Đấu Chu cùng nhiều loài nhện khác, chúng ta hầu như chỉ thấy chúng ngọ nguậy không ngừng, chẳng chịu ở yên dù chỉ một phút, như thể mắc chứng tăng động, chưa từng thấy chúng ăn uống bao giờ. Chúng liên tục tiêu hao năng lượng mà hầu như không được bổ sung, thật khiến người ta khó lòng tưởng tượng nổi.
Chẳng hạn như nhện con của loài lang chu sẽ sống trên lưng mẹ khoảng bảy tháng trời, nhện mẹ bò đi khắp nơi, nhện con cũng bò qua bò lại trên lưng mẹ. Trong hơn hai trăm ngày đằng đẵng ấy, thi thoảng chúng sẽ trượt ngã khỏi lưng mẹ, mỗi lần như vậy chúng lại men theo chân mẹ trèo về chỗ cũ. Chúng luôn tràn trề tinh lực mà dường như chẳng hề ăn bất kỳ thứ gì. Con non của rất nhiều loài nhện đều như vậy, chúng vận động không ngừng nhưng không hề ăn uống, ngay cả vào mùa đông cũng không cần nạp thêm nhiệt lượng.
Đây thực sự là một chuyện kỳ lạ. Chiểu theo định luật khoa học, vạn sự đều có nhân quả, một khi đã tiêu hao năng lượng thì ắt phải có sự bổ sung mới duy trì được cân bằng. Giống như chúng ta thường thấy gà con nghe tiếng mẹ gọi là lập tức lao vút tới chỗ hạt thóc, phản xạ của chúng đối với thức ăn gần như là bẩm sinh. Gà con thông qua việc ăn uống mới biến thức ăn thành nhiệt lượng rồi chuyển hóa thành năng lượng cần thiết để chạy nhảy nô đùa. Chúng ta khó lòng tưởng tượng nổi một chú gà con sau khi chui ra khỏi vỏ trứng có thể không ăn không uống, chạy nhảy liên tục suốt bảy tám tháng trời, điều đó thực sự trái với lẽ thường.
Thế nhưng, điều vô lý ấy lại hiển hiện ngay trong thế giới loài nhện, dẫu là Khắc La Đa Chu, lang chu hay Mê Cung Lậu Đấu Chu, đều trở thành nhân vật chính trong kỳ tích tự nhiên này. Con người thường vì tò mò mà hoài nghi kỳ tích, đồng thời tìm cách đặt ra nhiều giả thuyết để bác bỏ nó, bí mật sinh tồn của bầy nhện con hiển nhiên đã khơi gợi hứng thú của rất nhiều người.
Chúng ta hãy điểm lại đôi chút về vấn đề do lũ con non của loài lang chu gợi mở: chẳng hạn có người cho rằng tuy chúng ta không thấy nhện con ăn trên lưng mẹ, nhưng ai biết được chuyện gì xảy ra sau khi chúng chui vào hang ổ, biết đâu nhện mẹ ở trong hang đã mớm bã thức ăn từ bụng mình cho nhện con. Thế nhưng suy đoán này không thể giải thích cho bí mật của Khắc La Đa Chu, bởi vì nhện mẹ Khắc La Đa Chu và con non bị ngăn cách bởi bọc trứng, thức ăn dạng rắn chắc chắn không thể lọt vào trong. Vậy thì, liệu có phải nhện mẹ đã nhả ra chất dinh dưỡng dạng lỏng từ miệng, rồi thẩm thấu qua lớp tơ nhện vào trong bọc trứng hay không? Giả thuyết này có lẽ đúng với sự thật, nhưng Mê Cung Lậu Đấu Chu mẹ đã chết chỉ vài tuần sau khi nhện con nở ra, trong khi lũ nhện con Mê Cung Lậu Đấu Chu còn phải sống trong bọc trứng thêm nửa năm nữa, vậy thì ai sẽ truyền dịch dinh dưỡng cho chúng?
Hàng loạt phỏng đoán này đều chưa đủ hoàn thiện. Người ta không ngừng đặt ra giả thuyết rồi lại tự phủ định chính mình, cuối cùng chỉ đành ngờ rằng có lẽ chúng sống sót nhờ ăn chính ngôi nhà của mình. Phỏng đoán này không phải không có lý, bởi vì một số loài nhện quả thực có nuốt chính tơ do mình nhả ra, chẳng hạn như Viên Võng Chu. Viên Võng Chu trước khi dọn nhà thường sẽ nuốt căn nhà phế bỏ vào trong bụng. Chúng ta vừa định reo hò vì cuối cùng đã tìm ra câu trả lời, thì vấn đề khác lại ập tới: bầy con của loài lang chu căn bản không hề có lưới tơ.
Đây thực sự là một bài toán khiến người ta phiền lòng, những khả năng và sự mâu thuẫn xuất hiện khắp nơi. Cuối cùng tôi đành tự thuyết phục mình tin rằng: dẫu là con non của loài nhện nào, chúng đều sống sót mà không cần ăn bất cứ thứ gì.
Tôi chẳng thể nào khiến bản thân hoàn toàn tin vào quan điểm ấy, trong lòng tôi luôn dấy lên mối nghi ngờ: có lẽ khi vừa mới nở ra, trong cơ thể nhện con đã tích trữ một loại vật chất nào đó mang theo từ trong trứng, hoặc là chất béo, hoặc là một dạng chất khác có thể chuyển hóa thành cơ năng. Song khả năng này cũng không dập tắt được sự hoài nghi của tôi, bởi vì thời gian nhện con nhịn ăn không phải chỉ vỏn vẹn vài giờ hay vài ngày, mà là nửa năm hoặc thậm chí lâu hơn, trong cái thân xác bé xíu ấy, làm sao có thể tích trữ được lượng năng lượng khổng lồ đủ để duy trì cơ thể trong thời gian dài đến thế? Chẳng lẽ một nguyên tử lại có thể chứa đựng nguồn dầu máy dùng mãi không cạn hay sao? Khả năng này vô cùng mong manh, căn bản không đủ sức thuyết phục.
Đến cuối cùng, tôi vẫn không thể làm sáng tỏ bí mật của loài nhện, có lẽ một ngày nào đó sẽ có người dùng phương pháp khoa học để giải mã những bí ẩn này, biết đâu nhờ đó mà họ chứng minh được những định lý khoa học vốn chưa từng được khám phá. Đến lúc ấy, những sinh vật bé nhỏ như Khắc La Đa Chu, lang chu, có lẽ sẽ trở thành đại diện cho những lý thuyết khoa học mới mẻ không chừng.
