Chương 27
Chương 27: Bọ ngựa săn mồi
Đăng ngày 27/09/2026
19
Còn có một loài côn trùng cũng bắt mắt chẳng kém gì ve sầu, cùng sinh trưởng ở phương nam, nhưng danh tiếng so với ve sầu lại có phần khiêm tốn hơn đôi chút, bởi nó không giống ve sầu râm ran ca hát suốt ngày đêm. Nếu nó cũng có được một chiếc hộp phát thanh nhỏ như ve sầu, cộng thêm ngoại hình vô cùng độc đáo kia, e rằng danh tiếng của nó đã sớm vượt qua ve sầu rồi. Loài côn trùng này chính là Tu Nữ Đường Lang, người dân địa phương gọi nó là "kẻ cầu Chúa".
Trước khi săn mồi, bọ ngựa thường làm ra tư thế như đang cầu nguyện, khiến nhiều người ngỡ rằng nó là một nữ tiên tri truyền đạt thần dụ, có lẽ có người sẽ cho rằng đây chỉ là quan niệm mê tín. Thế nhưng ở điểm này, thuật ngữ của các nhà khoa học và từ ngữ mộc mạc của những người nông dân lại trùng khớp đến kinh ngạc. Họ đều coi nó là nữ tiên tri truyền đạt lời sấm, là một nữ tu khổ hạnh mang tín ngưỡng thần bí và đang dốc lòng tu luyện. Thật ra từ rất lâu trước đó, người Hy Lạp cổ đại đã gọi loài côn trùng này là "thầy bói", "nhà tiên tri". Khi miêu tả giống sâu bọ này, các bác nông dân gom hết những từ ngữ mình có thể dùng, những ấn tượng từng có lại với nhau. Dưới ánh mặt trời như quả cầu lửa, bọ ngựa tao nhã dựng nửa thân mình, đôi tay giơ cao hướng lên bầu trời, đôi cánh rộng màu xanh biếc rủ xuống nhẹ tựa tà váy dài thướt tha, chẳng khác nào một nữ tu sĩ phong thái đoan trang đang cất lời cầu nguyện.
Thế nhưng bọ ngựa đã lừa gạt tất cả chúng ta, sau lời cầu nguyện thành kính chẳng phải một buổi lễ bái, mà lại là một bữa tiệc đẫm máu tàn nhẫn. Vẻ thành kính của nó chỉ là ngụy tạo, tàn khốc mới chính là bản tính thật sự. Đôi tay giơ lên trời chẳng phải để lần tràng hạt, mà là để xé xác tù binh của mình. Bọ ngựa vốn thuộc bộ Cánh thẳng ăn cỏ, nhưng vì tập tính ngày càng khác biệt, nay nó đã hoàn toàn tách riêng thành bộ Bọ ngựa. Nó cứ tao nhã phục kích nơi đồng ruộng như thế, niềm si mê thịt sống, đôi chân trước đầy sức mạnh cùng ngón đòn tấn công kín kẽ không một kẽ hở, những điều này không nghi ngờ gì nữa đã biến nó thành kẻ bá vương trong giới côn trùng; cái gọi là "kẻ cầu Chúa" thực chất lại là một ác ma tội ác tày trời.
Chưa bàn tới đôi chân bắt mồi với lực công kích cực mạnh kia, chỉ xét riêng ngoại hình, nó quả thực là một nữ tu tao nhã, phong thái vạn phần, thân hình thon dài, toàn thân biếc xanh, chiếc đầu vươn ra khỏi ngực có thể xoay trái xoay phải, ngẩng lên, cúi xuống, hơi giống con người ở khả năng tự do điều hướng tầm nhìn của mình. Trên đầu cũng không có cặp hàm lớn khỏe khoắn của loài côn trùng ăn thịt, miệng nó thậm chí còn rất thanh tú, như thể chỉ mổ được những ngọn cỏ non trên mặt đất, nào ai hay chiếc miệng ấy đã nhuốm máu biết bao loài côn trùng. Cả con bọ ngựa nom tao nhã, an tường đến vậy, ai mà ngờ được chỉ trong chớp mắt nó sẽ biến thành một sát thủ cự phách.
Đốt đùi trước của nó rất dài, tựa như con thoi dệt cửi, mép trong có hai hàng răng cưa sắc bén; để đánh lừa con mồi, chúng còn tạo thêm một chút hoa văn ở nơi này: mép trong ngực trước có một đốm tròn màu đen, ở giữa điểm xuyết chút màu trắng, hai bên lại tô điểm những chấm tròn nhỏ tựa hạt ngọc trai, nhìn quả thực rất đẹp. Kẻ bị săn đuổi thường bị vẻ ngoài này mê hoặc, thậm chí là kinh ngạc đến mức quên cả nguy hiểm, quên cả chạy trốn, và thế là mưu đồ của bọ ngựa đã thành. Những con côn trùng bị nó bắt được sẽ vô cùng thảm hại, bởi cấu tạo sinh lý đặc thù của bọ ngựa khiến cho con mồi hễ sa vào tay thì gần như không còn khả năng trốn thoát. Ở mép trong chân trước có tổng cộng mười hai chiếc răng cưa, gồm răng cưa dài màu đen xen lẫn răng cưa ngắn màu xanh, xếp thành trận hình so le dài ngắn, như vậy khi cắn xé thức ăn sẽ tăng thêm nhiều điểm khớp nối, khiến đòn tấn công của nó càng thêm hung bạo. Hàng răng cưa bên ngoài tương đối đơn giản hơn, chỉ có bốn gai nhọn, còn ở tận cùng mép răng cưa phía trong có thêm ba chiếc răng dài nhất; đó chính là toàn bộ cấu tạo của đôi chân bắt mồi.
Chỗ đốt ống nối liền với đốt đùi cũng là một lưỡi cưa hai mặt, những chiếc răng nhỏ ở đây càng thêm dày đặc, phản ứng dĩ nhiên cũng linh hoạt hơn; trên đốt bàn chân có một chiếc móc cứng vô cùng sắc bén, tựa như mũi kim thép tốt nhất mà ta từng dùng. Dưới chiếc móc có một rãnh nhỏ hẹp, bên trong là một lưỡi dao hai cạnh như loại dùng để tỉa cành. Thật ra chẳng cần miêu tả thì nhiều người cũng biết đôi chân bắt mồi của bọ ngựa lợi hại nhường nào. Tôi cũng vậy, để quan sát chúng, tôi đành phải bắt vài con về xem, rốt cuộc chúng đã để lại cho tôi ấn tượng vô cùng sâu sắc: Rất nhiều khi tôi vừa tóm được, nó liền liều mạng múa tít đôi chân trước để kháng cự, có những lúc, răng cưa trên chân bắt mồi cứ thế cắm phập vào da thịt trên tay tôi. Khổ nỗi tôi lại chẳng biết làm sao, hai tay tôi bận giữ chặt lấy nó, thế là đành phải nhờ người khác gỡ chân nó ra khỏi tay mình. Nhìn từng chiếc răng cưa cắm nông sâu khác nhau được nhổ ra khỏi tay, khi ấy tôi thầm nghĩ, nếu mình cứ thế giật phắt nó ra thì kết cục bàn tay mình e là sẽ thảm hại lắm; vả lại tôi cũng chẳng dám dùng sức quá mạnh với nó, bởi chỉ cần mạnh tay thêm một chút thôi có thể sẽ bóp chết nó mất. Nhưng đôi khi tôi lại thấy tức mình, tôi cẩn thận nâng niu nó như vậy là sợ làm nó tổn thương, thế mà nó lại đem hết ngón đòn ra đối phó với tôi, khiến tôi chẳng biết phải làm sao cho phải.
Những lúc không muốn đi săn, nó sẽ giơ cao đôi chân lên, làm ra vẻ thành kính cầu nguyện, nhưng dáng vẻ này chẳng duy trì được bao lâu. Đến khi muốn bắt mồi và xung quanh có con mồi đi qua, nó sẽ lập tức tung ra kỹ năng tấn công hoàn hảo không tì vết: trước tiên phóng chiếc móc cứng trên đốt bàn chân ra thật xa để móc con mồi lại, kế đó kẹp chặt con mồi vào giữa hai chiếc kìm vững chắc tựa cưa thép, rồi gập đốt ống về phía đốt đùi. Mọi chuyện cứ thế kết thúc, chiếc kìm sắt đã khép chặt, dẫu con mồi bị kẹp có khỏe mạnh đến đâu, chỉ cần chuỗi động tác này hoàn tất thì đừng mong thoát khỏi gọng kìm thép của bọ ngựa, dù giãy giụa hay đá hậu cũng đều vô ích. Bọ ngựa vẫn sẽ giữ nguyên dáng vẻ tao nhã của mình, đợi đến khi con mồi kiệt sức, nó mới bắt đầu thưởng thức bữa tiệc tươi ngon.
Tôi muốn nuôi vài con bọ ngựa để tìm hiểu rõ tập tính của chúng. Dù quá trình bắt bọ ngựa có thể gặp đôi chút sự cố nhỏ, nhưng việc nuôi dưỡng thực ra lại rất đơn giản, bởi dường như nó chỉ quan tâm thức ăn là gì chứ chẳng màng đến việc mình có đang ở trong lồng hay không. Vì vậy mỗi ngày tôi chỉ cần thả thật nhiều thức ăn vào dụng cụ thủy tinh, kẻ săn mồi hung tàn này vẫn rất chịu hợp tác. Tôi tìm một chiếc chậu sành, đổ đầy cát vào trong, sau đó điểm thêm một khóm cỏ xạ hương để cuộc sống của bọ ngựa thêm phần thi vị, tiếp đó đặt một phiến đá nhẵn nhụi để sau này chúng có nơi thích hợp đẻ trứng; cuối cùng, tôi dùng chiếc lồng bàn lưới vốn dùng đậy thức ăn chắn ruồi trên bàn ăn để úp lên trên căn phòng quan sát này, nơi đây phần lớn thời gian đều tràn ngập ánh nắng.
Đến cuối tháng Tám, những con bọ ngựa cái bụng mang dạ chửa ngày càng nhiều, sức ăn của chúng cũng ngày một lớn, so với trước kia, tôi phải tăng lượng thức ăn bỏ vào lên gấp nhiều lần mới thỏa mãn được cái dạ dày ngày một phình to của chúng. Dĩ nhiên còn có một nguyên nhân khác, đó là dường như chúng biết tôi vì quan sát nghiên cứu nên sẽ rất ân cần bỏ thức ăn béo bở vào phòng thí nghiệm, bởi vậy có rất nhiều con mồi tươi sống chúng chỉ ăn vài miếng rồi vứt sang một bên chẳng thèm đoái hoài nữa; nếu ở ngoài đồng ruộng, e là chúng đã chén sạch con mồi tóm được rồi. Rốt cuộc tôi đành phải dùng bánh mì và dưa hấu để mua chuộc mấy đứa trẻ con quanh vùng, nhờ chúng bắt giúp ít châu chấu và muỗm, bản thân tôi cũng xách lưới ra ngoài tìm kiếm vài món cao lương mỹ vị thượng hạng hơn cho mấy ả bọ ngựa cái kén ăn này.
Tất nhiên những món ngon tôi tìm về cũng tiềm ẩn mối nguy hiểm nhất định. Tôi rất muốn xem thử trong giới côn trùng, rốt cuộc thành viên nào mới có thể thoát khỏi tay bọ ngựa cái. Trong số thức ăn tôi tìm được có con to hơn bọ ngựa cái rất nhiều, chẳng hạn như châu chấu xám; lại có những con mang cặp hàm lớn vô cùng khỏe mạnh, như Bạch Ngạch Chung Tư; đương nhiên còn có cả hai loài nhện lớn nhất vùng này, nói thật to đến mức tôi nhìn thấy cũng phải phát sợ. Sau khi những con mồi đủ loại này được thả vào phòng nuôi, bọ ngựa cái dường như chẳng hề bị những kẻ hiếm gặp này dọa sợ, nó vẫn vung chiếc kìm lớn như thường lệ, thu phục từng con mồi vào túi. Tôi nghĩ bụng, thả những thức ăn này vào phòng nuôi mà chúng còn hăng hái đi săn như vậy, thì những lúc các con mồi hiếm gặp này xuất hiện trước mặt ngoài tự nhiên, chúng nhất định sẽ còn dốc sức hơn nữa.
Khi nó phát động tấn công một con châu chấu lớn, tôi đã chăm chú quan sát một lần. Bởi lẽ nó bỗng nhiên co giật toàn thân như bị điện giật, cảnh giác đối mặt với gã khổng lồ trước mắt, rồi hạ thấp thân hình tao nhã cùng đôi tay cầu nguyện xuống, bày ra một tư thế đáng sợ. Tôi bị cảnh tượng trước mắt làm cho giật mình, chẳng ngờ sự chuyển biến từ ôn hòa sang tấn công của nó lại nhanh đến thế. Trước tiên nó xòe nghiêng đôi cánh trước sang hai bên, ngay sau đó mở toang đôi cánh sau như hai cánh buồm lớn, bụng cuộn ngược lên rồi lại hạ xuống, liên tục giật giật, lúc căng lúc chùng tựa chiếc gậy cong, lại còn phát ra những tiếng "phì phì" như gà tây xòe đuôi. Dường như nó không vội tấn công, mà từ từ dựng thẳng thân mình, đứng vững hoàn toàn trên bốn chân sau, đôi chân bắt mồi lúc này giang rộng, bắt chéo thành hình chữ thập trước ngực, phô bày trọn vẹn những đốm màu tuyệt đẹp cùng chuỗi hạt hoa lệ nơi trước ngực, rồi cứ giữ nguyên tư thế ấy không đổi, dường như muốn áp đảo đối phương về mặt khí thế trước tiên.
Rốt cuộc có thành công hay không, tôi thật sự không tài nào biết được, bởi biểu cảm của loài côn trùng nhỏ bé này quá đỗi khó nắm bắt. Tôi không rõ liệu con châu chấu lớn kia có thực sự bị khí thế lúc đầu hung hãn, sau lại đài các của bọ ngựa cái áp đảo hay chăng, nhưng có một điều tôi thấy rất rõ: khi bọ ngựa cái quyết định thu lại thế trận để mở màn tấn công, châu chấu lớn không hề dùng cặp chân sau đầy sức mạnh bật nhảy thật xa như tôi hằng tưởng. Phải biết rằng cả lồng nuôi này rất rộng, nếu châu chấu muốn tận dụng sức bật để lẩn trốn một thời gian thì hoàn toàn có thể. Điều làm tôi kinh ngạc là nó không những chẳng hoảng hốt tháo chạy, mà còn ngây ngốc tiến lại gần bọ ngựa cái. Trước đây tôi chỉ nghe nói chim nhỏ đứng trước chim ưng sẽ sợ hãi đến mức luống cuống mất phương hướng, không ngờ côn trùng cũng như vậy. Châu chấu lớn dường như đã thực sự bước vào phạm vi kiểm soát của bọ ngựa cái. Lúc này nó đã mất hết tâm trí, tựa hồ hoàn toàn bị bọ ngựa cái khống chế, ngây ra chờ biến thành món ăn trong đĩa của kẻ khác.
Chuyện này có lẽ đã tước mất đôi phần thú vui săn mồi của bọ ngựa cái, song nó vẫn chẳng hề bỏ qua bữa tiệc thịnh soạn thơm ngon. Lại là ngón đòn săn bắt gần như vạn vô nhất thất ấy, mãi đến khi bị cặp kìm của bọ ngựa cái siết chặt, con châu chấu lớn dường như mới bừng tỉnh, nhưng bấy giờ đã quá muộn màng. Bọ ngựa nhanh chóng chế ngự con mồi đang ra sức giãy giụa, rồi bắt đầu ngon lành thưởng thức bữa ăn của mình. Đương nhiên so với cảnh tượng nuốt gọn châu chấu xám và Cự Chung, thì những con mồi sau chẳng cần nhiều khúc dạo đầu đến thế. Bọ ngựa cái chỉ việc phóng chiếc móc cong lớn ra quắp lấy con mồi kéo về, rồi cứ theo trình tự thường ngày mà bắt đầu đánh chén là xong. Đối phó với những kẻ tép riu như vậy thậm chí còn chẳng cần dùng đến đòn đe dọa; chỉ khi chạm trán những con mồi lọt vào phạm vi thế lực mà nó lại không nắm chắc mười phần có thể một đòn hạ gục, nó mới dùng đến mưu ma chước quỷ để mê hoặc đối phương. Thực ra khi nó bày ra tư thế kỳ dị ấy, đôi cánh đóng vai trò rất lớn. Cánh của nó vừa rộng vừa to, có màu bán trong suốt phơn phớt xanh lục, muôn vàn đường gân đan xen chằng chịt tạo thành những ô lưới thẳng đứng. Khi đôi cánh lớn ấy phần phật mở ra, e rằng chẳng ai có thể không bị nó thu hút. Huống hồ trong lúc giương cánh, chóp bụng nằm giữa hai cánh ngoài việc cuộn ngược lên còn không ngừng rung giật, thậm chí phát ra những tiếng "phì phạch", cảnh tượng như thế sao có thể không khiến các loài côn trùng khác ngây dại cho được, để rồi bọ ngựa chỉ việc thừa cơ ra tay, nắm chắc phần thắng.
Quan sát bọ ngựa đực và bọ ngựa cái trong lồng lưới, tôi nhận ra cánh của bọ ngựa cái cũng rộng lớn y như bọ ngựa đực. Vì cớ làm sao lại thế? Tôi nảy sinh mối hoài nghi này là hoàn toàn có lý. Trước hết hãy thử so sánh nó với loài Hôi Đường Lang ở gần đó. Bọ ngựa cái của loài Hôi Đường Lang không hề có đôi cánh to rộng, chúng chỉ cần kéo lê cái bụng tròn căng đầy con non mà chậm rãi bò đi là đủ, lúc này cánh đã thoái hóa hoàn toàn, teo tóp lại thành một cặp tí hon, trông hệt như đang khoác chiếc áo đuôi tôm có đính đôi cánh nhỏ xíu phía sau để làm cảnh. Tập tính của chúng là sống giữa đám cỏ khô và sỏi đá vụn, hơn nữa với thân hình nặng nề béo múp, chúng cũng chẳng thể nào bay lượn, nên việc thoái hóa đôi cánh mới là lựa chọn chuẩn xác. Vậy chẳng lẽ việc Tu Nữ Đường Lang vẫn mang trên mình đôi cánh to rộng lại là một sai lầm?
Tất nhiên không phải vậy, cái gì tồn tại ắt có lý do của nó. Tu Nữ Đường Lang sở dĩ mọc ra đôi cánh to rộng là vì lý do riêng, và chắc chắn điều đó có lợi cho sự sinh tồn của nó. Như đã nói ở trước, sức ăn của bọ ngựa cái vô cùng khủng khiếp, vả lại đâu phải lúc nào cũng có người vì muốn nghiên cứu mà chịu bỏ bao công sức đi bắt sơn hào hải vị về dâng tận miệng cho chúng. Thành thử những ngày thường nhật, chúng phải tự mình mai phục sau vách đá, trong lùm cỏ hoặc những nơi khác để chờ con mồi xuất hiện đặng đánh chén một bữa no nê. Nhưng phần trước cũng đã đề cập, không phải trước con mồi nào chúng cũng nắm chắc một đòn tất trúng. Bởi vậy đôi khi, chúng cần dùng đôi cánh lớn tựa bóng ma trắng toát kia để dọa cho đối phương khiếp vía trước, rồi nhân lúc kẻ địch còn đang chết sững mà ồ ạt tấn công. Chỉ cần cặp kìm thép khép chặt lại thì ắt nắm chắc phần thắng trong tay. Cho nên, để trở thành một thợ săn dũng mãnh, một người mẹ có thể tự lực cánh sinh, việc sở hữu đôi cánh lớn chính là lựa chọn sáng suốt của Tu Nữ Đường Lang.
Đôi khi, những con bọ ngựa cái đói ngấu nghiến có thể tiêu hóa cực nhanh những con mồi to ngang ngửa, thậm chí còn nhỉnh hơn cả thân hình nó. Có lúc tôi phải kinh ngạc thốt lên, bởi người ta không thể nào nhét một vật to như quả bóng rổ vào chiếc hộp chỉ bằng quả bóng đá, vậy mà bọ ngựa cái lại giải quyết vấn đề ấy một cách chẳng chút tốn công. Dạ dày của nó có khả năng tiêu hóa cực mạnh, thức ăn vừa vào đến bụng dường như chẳng cần đợi chờ đã lập tức bị phân rã, tiêu hóa rồi thải ra ngoài. E rằng chỉ có quá trình tiêu hóa liền mạch và mau lẹ đến nhường ấy mới thỏa mãn nổi sức ăn của nó. Dưới lồng lưới của tôi, châu chấu là con mồi phổ biến nhất của đám bọ ngựa cái. Lắm lúc tôi lại chăm chú ngắm nhìn bọ ngựa thưởng thức một con châu chấu ra sao. Chúng dùng chiếc miệng thoạt nhìn chẳng giống loài ác ma khát máu chút nào, cứ thế thong thả gặm sạch nguyên cả một con châu chấu, cuối cùng chỉ chừa lại hai chiếc cánh khô cứng, ngay đến chút thịt dính ở gốc cánh cũng chẳng nỡ bỏ qua. Thỉnh thoảng tôi nhận thấy chúng sẽ bắt đầu thưởng thức từ cặp đùi của châu chấu trước, điều này cũng dễ hiểu thôi, hệt như việc chúng ta thích đùi cừu béo ngậy vậy.
Cách ăn mồi của bọ ngựa làm tôi liên tưởng đến hai loài nhện cua, chính là Kim Tiền Giải Chu và Mãn Giải Chu. Sở dĩ gọi chúng là nhện cua vì dáng đi ngang như cua của chúng. Trên bụng Mãn Giải Chu có một vòng tròn đỏ, lại điểm xuyết những đốm hình chiếc lá, toàn thân đen bóng loáng; còn trên chân của Kim Tiền Giải Chu lại có từng ngấn vòng tròn, hoặc đỏ hoặc xanh lục, mình mẩy lại trắng muốt như lụa. Ngày thường chúng hiếm khi nhọc công giăng tơ bẫy mồi như các loài nhện khác, chút tơ ít ỏi chúng nhả ra chỉ dùng để dệt túi bọc trứng mà thôi. Chiến thuật săn mồi của chúng là mai phục sẵn trong những đóa hoa, rồi bất thần tập kích con mồi, trong đó ong mật là món mồi hoang dã mà chúng ưa thích nhất. Không dưới một lần tôi tận mắt chứng kiến chúng ghì chặt lấy những chú ong mật đáng thương, rồi cắm chiếc móc độc vào phần gáy mềm mại của ong, chỉ trong chớp mắt, ong mật đã không còn giãy giụa nữa. Tôi nói cách ăn mồi của bọ ngựa rất giống loài nhện cua, là bởi bọ ngựa cũng là loài ác ma khăng khăng chọn gặm nhấm từ phần cổ của con mồi trước tiên.
Đã bao lần tôi thấy bọ ngựa tóm được con mồi, bèn dùng một chân bắt mồi quắp ngang lưng nạn nhân, chân còn lại ghì chặt đầu nó xuống. Thế là chỗ hiểm yếu nhất không có giáp bảo vệ của lũ côn trùng cứ thế phơi bày ra trước mặt bọ ngựa cái, rồi nó từng miếng từng miếng gặm nhấm chỗ hiểm ấy, vô cùng kiên trì, cho đến khi cắn rách toác một lỗ hổng thật lớn. Con mồi hoàn toàn mất đi tri giác, bấy giờ bọ ngựa mới có thể thỏa thuê tận hưởng chiến lợi phẩm theo sở thích của mình.
Ưu thế thể hình của bọ ngựa cái thực ra vượt xa loài nhện cua, cho nên tôi rất hứng thú với quá trình săn bắt của nhện cua. Bởi thân là loài côn trùng thuộc họ nhện, chúng lại không dùng tơ bủa vây con mồi trước rồi mới từ từ chế ngự, mà lại dùng tay không tấc sắt để giáp lá cà với con mồi. Tôi cảm thấy đây là một quá trình đòi hỏi nhiều mưu lược hơn hẳn. Thế là tôi muốn tìm một nơi để quan sát trọn vẹn một trận chiến có nhện cua tham gia. Dĩ nhiên, nếu chỉ hoàn toàn dựa vào vận may để canh chừng bên những bụi oải hương đợi nhện cua xuất kích thì sẽ ngốn rất nhiều thời gian, bởi vậy tôi quyết định chủ động tạo ra một môi trường cho nó. Tôi thả nhện cua vào lồng lưới, đặt bên cạnh một bó hoa oải hương có nhỏ vài giọt mật ong, rồi thả thêm ba bốn con ong mật sung sức vào trong. Mọi thứ đã hoàn tất, việc tôi cần làm lúc này chỉ là kiên nhẫn đợi chờ quan sát.
Trước hết, tôi phải nói rằng nhện cua là một thợ săn rất kiên nhẫn. Nó chỉ chậm rãi bò lên bó hoa, dừng lại bên chỗ có mật ong rồi nằm im. Những con ong trong lồng lưới vẫn chưa biết kẻ ở chung với mình hung dữ đến mức nào. Chúng vui vẻ bay qua bay lại, thỉnh thoảng còn đậu xuống hoa oải hương, uống một ngụm mật ong thật lớn. Ban đầu, nhện cua chẳng làm gì, cứ lặng lẽ nằm bên cạnh. Dần dần, lũ ong bạo dạn hơn, đậu lại uống mật lâu hơn, không hay biết kẻ hàng xóm nãy giờ án binh bất động sắp ra tay. Nhện cua vẫn chờ. Chỉ có điều, nó từ từ dang rộng rồi giơ cao những chiếc chân, giữ nguyên tư thế ấy để đợi thời cơ. Quả nhiên, một con ong khác không cưỡng nổi sức hấp dẫn của mật ong, đáp xuống. Nhện cua lập tức lao tới, dùng chiếc móc có nọc quặp lấy chóp cánh nó. Đến lúc ấy, kẻ bất cẩn bé nhỏ mới nhận ra nguy hiểm. Nó vùng vẫy hết sức, nhưng đã muộn. Nhện cua nhanh chóng bò lên lưng con ong, khiến ngòi đốt của nó hoàn toàn vô dụng. Chỉ cần chọn đúng lúc cắm chiếc gai có nọc vào gáy con ong là trận chiến kết thúc. Con ong mất đi tri giác, còn nhện cua bắt đầu hút dịch trong cơ thể nó. Nó chỉ hút chứ không ăn thịt; khi máu ở một chỗ đã cạn, nó lại chuyển sang chỗ khác để tiếp tục bữa tiệc. Trước đây, tôi từng thắc mắc tại sao có lúc nhện cua hút ở vị trí này, có lúc lại ở vị trí khác. Giờ thì tôi đã hiểu. Nếu thấy nó hút máu ở cổ ong, nghĩa là nó vừa bắt được con mồi, máu ở đó vẫn chưa cạn. Còn nếu nó chuyển sang bộ phận khác, nghĩa là chỗ đầu tiên đã hết máu. Nhện cua chẳng hứng thú gì với thịt ong. Nó cứ chuyển từ chỗ này sang chỗ khác cho đến khi không còn nơi nào hút được máu nữa. Ngay cả lúc ấy, nhìn bên ngoài vẫn khó nhận ra con ong bị thương; người ta thậm chí có thể tưởng nó đang ngủ say. Nhưng thực ra, nó đã chết và máu trong cơ thể cũng đã cạn.
Chó cũng có một điểm tương tự. Xin tạm rẽ sang chuyện khác một chút: khi tấn công, chó thường cắn chặt cổ đối phương không buông. Răng chó không có nọc độc, không thể khiến đối phương tê liệt trong chốc lát, nhưng cú cắn ấy giữ cho đầu đối phương không xoay được, cũng không thể tấn công nữa. Vết thương ở cổ tuôn máu xối xả, cuối cùng sẽ khiến đối phương chết. Nhện cua thì khác. So với ong, nó yếu hơn, lại không biết bay nên di chuyển cũng kém linh hoạt. Trông chờ vào một cuộc giằng co kéo dài để bắt được mồi là quá mạo hiểm. Vì vậy, nó phải bò lên lưng ong nhanh nhất có thể. Dù có nguy cơ trúng ngòi đốt trên đường, nó vẫn bất chấp tất cả để leo lên rồi cắn vào gáy con ong. Nó biết chỉ vài giây sau, phần thắng sẽ thuộc về mình.
Giờ hãy trở lại với bọ ngựa. Trên người nó không có bộ phận nào mang nọc độc, vậy nó chống đỡ đòn phản kháng của con mồi bằng cách nào? Xé đứt đôi chân sau khỏe mạnh của chúng trước, tước đi đôi lưỡi hái chẳng kém gì của mình, hay cắt cánh để chúng khỏi bay mất? Không cách nào bảo đảm nó khuất phục được con mồi trong thời gian ngắn. Nếu cứ thế mà làm, bản thân nó cũng gặp nguy hiểm. Nhưng không cần lo. Tuy không có nọc độc như nhện cua, bọ ngựa vẫn có một cách đạt hiệu quả tương tự. Nhện cua dùng nọc độc làm tê liệt con mồi; bọ ngựa thì nhắm vào gáy, kiên trì cắn đúng chỗ ấy cho đến khi phá hủy trung khu thần kinh. Khi đó, con mồi không còn sức chống cự. Dù to lớn hay hung dữ đến đâu, nó cũng có thể yên tâm ăn thịt.
Trước kia, tôi chỉ chia những loài côn trùng săn mồi giỏi thành hai nhóm: loài giết chết con mồi và loài gây mê con mồi. Giờ e rằng phải thêm bọ ngựa cái vào danh sách: một sát thủ điềm nhiên cắn đứt dây thần kinh ở cổ con mồi, rồi mới thong thả thưởng thức bữa ăn.
