Chương 40
Chương 40: Tâm lý học côn trùng
Đăng ngày 27/09/2026
19
Thời tôi còn trẻ, người ta dạy chúng tôi trong những cuốn sách bốn xu rằng con người là loài động vật có lý tính. Về sau, qua các trước tác học thuật, người ta lại chứng minh cho chúng tôi thấy trí tuệ con người chẳng qua chỉ là những nấc thang chồng chất lên phần bản năng động vật thấp kém nhất. Mạch truyền ấy không hề đứt đoạn, nấc này nối tiếp nấc kia, từ bậc thấp nhất bước lên bậc cao nhất. Trí tuệ bắt đầu từ con số không trong đám protein tế bào, rồi tăng dần đến mức thông tuệ như Newton. Năng lực khiến nhân loại tự hào nhường ấy hóa ra lại là tài sản chung của muôn loài, từ những phân tử của sự sống cho đến loài vượn người khổng lồ, tất thảy đều có lý tính.
Theo tôi, thuyết này chẳng khác nào việc người ta muốn mở mang bình nguyên nên bèn san phẳng núi cao rồi lấp đầy thung lũng. Cái không có lại được nói như thể hiển nhiên tồn tại, âu cũng nhờ vào cái lý thuyết cào bằng ấy ban cho. Tôi từng cố công tìm kiếm chút chứng cứ nhằm chứng minh cho luận điệu kéo vạn vật lên ngang hàng này. Thế nhưng, trong sách vở chẳng hề có, mà chứng cứ mơ hồ thì không thể dùng. Để tìm được vật chứng đáng tin cậy, tôi lại một lần nữa đích thân quan sát và làm thí nghiệm.
Qua bốn mươi năm không ngừng giao thiệp với côn trùng, rốt cuộc tôi cũng hiểu đôi chút về chúng. Để lời nói thêm phần chắc chắn, chuyện gì tôi cũng tìm đến loài côn trùng màng cánh vốn có thiên bẩm cao nhất để thỉnh giáo. Những sinh vật tài ba nhất ấy đang ở đâu? Cứ để những kẻ hoài nghi tôi đi mà hỏi han loài côn trùng. Tự nhiên cũng biết rằng khi tạo tác muôn loài, phải để cho những sinh linh bé nhỏ nhất sở hữu nhiều tài nghệ nhất. Dù loài chim có là kiến trúc sư đại tài, tổ ấm chúng dựng nên cũng chẳng thể sánh bằng hang ổ của Thạch Phong. Tổ ong quả là một kiệt tác hình học siêu việt xiết bao! Ngay cả loài người cũng không nhịn được mà coi nó như đối thủ cạnh tranh. Chúng ta xây dựng thành phố, loài côn trùng mang đôi cánh nhỏ này cũng kiến thiết thị trấn con; chúng ta biết dùng người hầu, chúng cũng có; chúng ta nuôi nhốt gia súc, chúng nuôi nhốt rệp muội; chúng ta chăn nuôi súc vật lấy thịt, chúng cũng nuôi loài vật làm ra đường; chúng ta từ bỏ chế độ nô lệ, còn chúng lại tiếp tục buôn bán "kẻ da đen".
Loài côn trùng ưu tú và được trời ưu ái nhường ấy, liệu có biết tư duy chăng? Xin độc giả chớ vội cười, đây thực sự là vấn đề rất đáng để chúng ta nghiền ngẫm. Việc quan sát côn trùng chính là đặt câu hỏi cho những vấn đề mà ta hằng trăn trở. Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu tới? Cái đầu của loài côn trùng màng cánh chứa đựng những gì? Cấu tạo của chúng có giống chúng ta chăng? Chúng có tư tưởng hay không? Nếu giải quyết được vấn đề này, hẳn sẽ thú vị biết bao. Nếu ta ghi chép lại những điều đó, ắt sẽ là nguồn tư liệu học thuật quan trọng dường nào. Nhưng một khi bắt tay vào nghiên cứu, ta sẽ luôn phát hiện ra vô vàn bí ẩn khôn bề tháo gỡ. Ngay cả bản thân mình ta còn chưa thấu tỏ, làm sao có thể nghiên cứu loài sinh vật khác đây? Miễn sao có được chút phát hiện nho nhỏ, tôi đã mãn nguyện lắm rồi.
Triết học cho chúng ta rất nhiều định nghĩa mang tính học thuật về trí tuệ. Thôi thì ta cứ khiêm tốn một chút, chỉ bàn về động vật là được rồi. Trí tuệ là năng lực liên kết nhân quả, khiến hành vi thuận theo tính tất yếu, từ đó dẫn dắt hành động. Sau khi đã giới hạn như thế, liệu động vật có biết tư duy không? Chúng có thể kết hợp động cơ và hành vi của mình lại với nhau chăng? Đối mặt với biến cố, chúng có biết sửa đổi hành vi của mình không?
Tiền nhân chẳng để lại thành quả nghiên cứu nào liên quan, dẫu có vài mẩu tư liệu rải rác trong thư tịch thì về cơ bản cũng chẳng chịu nổi sự kiểm chứng khắt khe. Tài liệu tôi coi trọng nhất là của Erasmus Darwin từng nhắc tới trong cuốn "Động vật chí". Đối tượng của ông là một con tò vò vừa bắt được một con ruồi. Bấy giờ gió đang thổi mạnh, vì con mồi quá lớn nên con tò vò bay lên hết sức chật vật. Thế là nó đỗ xuống đất, cắn đứt bụng, đầu, rồi đến cánh của con mồi, cuối cùng chỉ tha phần ngực bay đi. Làm như vậy thì sức cản của gió sẽ không còn lớn nữa. Nếu chỉ nhìn riêng tư liệu ấy, tôi hoàn toàn tin tò vò là loài động vật có lý tính. Bởi lẽ diện tích tiếp xúc giữa con mồi và không khí quá lớn khiến đường bay bị cản trở, vậy nên giảm bớt diện tích, vặt bỏ đầu, bụng, đặc biệt là đôi cánh, sức cản tự nhiên sẽ nhỏ đi. Thật là một phép suy luận đầy tính logic!
Thế nhưng, dòng suy nghĩ giản đơn mà mạch lạc ấy thực sự bắt nguồn từ trí tuệ của côn trùng sao? Tôi không tin. Bằng chứng của tôi không hề có kẽ hở. Trong tập một, tôi từng làm thí nghiệm chứng minh con tò vò của Darwin chỉ thuận theo trí tuệ quen thuộc của nó: phân thây con mồi và giữ lại phần ngực giàu dinh dưỡng nhất. Bất kể có gió hay không, bất kể ở nơi chốn nào, nó luôn sàng lọc giữa phần thức ăn khô xác và phần béo bở, chỉ giữ lại phần ngực ngon lành nhất làm món thịt nghiền cho ấu trùng ăn. Như vậy, gió thổi chỉ là một điều kiện đặc thù. Dẫu trời không nổi gió, nó vẫn sẽ làm như thế. Darwin đã vội vã đưa ra kết luận, chuyện này nảy sinh từ đầu óc của ông chứ không phải từ sự thực. Nếu ông từng hiểu tập tính của loài tò vò, ông đã không gắn hiện tượng này với vấn đề trọng đại về lý tính của động vật, lại còn đem ra làm chứng cứ hết sức nghiêm túc. Tôi nói vậy chỉ để chỉ ra rằng, một người nếu chỉ chăm chú vào những ví dụ ngẫu nhiên quan sát được, dẫu có tỉ mỉ đến đâu cũng sẽ vấp phải khó khăn khôn xiết. Chúng ta không nên ôm tâm lý may rủi trước một lần làm chứng cứ, mà phải nhiều lần quan sát, đối chiếu kết quả lẫn nhau. Đó là điều kiện tất yếu để đưa ra kết luận.
Tôi không tìm thấy nguồn tư liệu nào được thu thập nghiêm ngặt như thế, vậy nên dẫu rất mong có sẵn tư liệu do người khác để lại, tôi vẫn đành phải tự mình đi tìm. Lũ Thạch Phong của tôi treo tổ trên vách tường ngoài hành lang, so với các loài côn trùng màng cánh khác thì càng tiện cho tôi tận dụng chúng để làm một loạt thí nghiệm. Suốt cả ngày tôi đều có thể thấy chúng ở nhà mình, còn gì thuận tiện hơn thế nữa? Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể để mắt tới từng nhất cử nhất động của chúng, dẫu thí nghiệm này có kéo dài bao lâu tôi cũng có thể tiến hành đến cùng. Huống hồ số lượng của chúng lại đông đảo đến vậy, thừa đủ cho tôi quan sát, cho đến khi thu được vật chứng không chê vào đâu được mới thôi.
Trước khi bắt đầu thí nghiệm, tôi phải giới thiệu qua về công trình kiến trúc phức tạp này đã. Ong thợ đá mái hiên trước hết dùng những cục đất làm nên các lối đi cũ, rồi hào phóng nhường lại một phần lối đi cho hai loài Bích ong — ong vò vẽ ba chạc và ong vò vẽ Latreille. Lối đi này dẫu cũ kỹ nhưng đỡ được khối phiền toái cho lũ Bích ong, nên rất được chúng hoan nghênh. Ngặt nỗi không gian bên trong lại chẳng đủ cho hai loài ong cùng chia chác. Đúng lúc ấy Bích ong lại trưởng thành sớm hơn Thạch Phong, chẳng mấy chốc đã trở thành chủ nhân của phần lớn tổ ong, thế nên không lâu sau Thạch Phong đành phải xây nhà mới. Gian tổ không phải được xây xong trong một sớm một chiều, mà do Thạch Phong luân phiên trát vữa rồi tích trữ mật, tháng năm tích tụ bồi đắp cho dày thêm. Ban đầu tổ ong trông như một cái tổ én, tựa hai cái bát con xếp chồng lên vách của gian tổ cũ.
Bát con làm xong rồi, liền có thể bắt đầu tích trữ mật. Thạch Phong ngừng tha vữa mà đổi sang tha mật. Chở được vài chuyến, Thạch Phong lại bắt đầu đắp mép bát con cao thêm. Nó liên tục đổi nghề, từ thợ nề hóa thành thợ lấy mật, chốc lát sau lại đổi ngược trở về. Cứ qua lại như thế nhiều lần, cho tới khi gian tổ đủ cao để chứa đủ lượng mật cho đàn ong sử dụng. Thu gom xi măng trên lối đi khô cằn, nhào trộn xi măng cho nhuyễn, rồi bay vào bụi hoa để túi mật nạp đầy mật ngọt, để bụng dính đầy phấn hoa; mỗi khi xây một gian tổ, Thạch Phong đều phải đi đi về về trên lộ trình ấy vô số lần.
Thời khắc đẻ trứng rốt cuộc cũng tới. Tôi thấy con Thạch Phong mang theo một viên vữa bay về. Nó liếc nhìn gian tổ một cái, kiểm tra xem mọi thứ đã đâu vào đấy chưa; nó thò bụng vào gian tổ đẻ trứng xuống, rồi lập tức dùng viên xi măng bịt kín miệng lỗ lại, vật liệu chuẩn bị vô cùng tươm tất. Miệng lỗ thoắt cái đã được trát kín. Việc cần làm lúc này là dùng lớp bùn mới gia cố nắp đậy, so với việc lập tức bịt miệng lỗ thì công đoạn này không gấp bằng. Xem ra công việc hệ trọng nhất chính là sau khi đẻ trứng phải lập tức bịt kín miệng lỗ, để tránh việc có kẻ mang dạ xấu ghé thăm khi ong mẹ vắng nhà. Đó cũng chính là lý do quan trọng khiến Thạch Phong vừa đẻ trứng xong là phong bế ngay miệng hang. Thử tưởng tượng xem, nếu đẻ trứng xong nó mới đi tìm bùn trát lỗ, e rằng sẽ có kẻ trộm đến đánh tráo trứng của nó bằng trứng của chúng. Thạch Phong cẩn trọng đến mức không để trứng con phải lộ ra trước mắt lũ trộm tham lam dẫu chỉ trong giây lát.
Chỉ cần tình hình bình thường, để đạt được mục đích nào đó, hành vi của lũ sâu bọ nhỏ bé luôn được trù tính từ trước. Chẳng hạn như, các loài côn trùng màng cánh ăn thịt muốn cung cấp thức ăn bảo đảm cho ấu trùng, lại muốn chúng được thưởng thức an toàn, thì buộc phải làm con mồi tê liệt. Hành vi ấy hợp lý biết bao. Phương pháp thỏa đáng nhường này, tôi thấy loài người cũng chẳng thể nghĩ ra cách thứ hai. Thế nhưng sâu bọ làm vậy không hề do lý tính, động vật căn bản chẳng hiểu gì về thuật phẫu thuật sống, tôi nghĩ không ai phản đối nhận định này. Do đó, côn trùng chỉ cần dựa vào bản năng là có thể làm ra những hành vi hợp lý nhất, nhưng chúng ta tuyệt đối không được coi đó là bằng chứng cho thấy chúng sở hữu lý trí.
Nếu tình huống đổi khác, chúng sẽ ra sao? Trước tiên chúng ta phải phân biệt rõ hai tình huống. Tình huống thứ nhất: khi côn trùng đang tiến hành một công việc nào đó mà sự cố xảy ra, nó sẽ bắt đầu khắc phục sự cố, sau đó dùng phương thức tương tự để tiếp tục công việc ban đầu. Có thể thấy nó vẫn đang ở trong trạng thái tâm lý lúc đó. Tình huống thứ hai: côn trùng đã bắt tay vào một công việc khác, thế nhưng sự cố lại liên quan đến công việc nó làm trước đó, bấy giờ nó buộc phải khôi phục lại trạng thái tâm lý ban đầu, tiến hành khắc phục trước rồi mới tiếp tục công việc. Côn trùng có thể làm được như vậy chăng? Có thể gác lại công việc trong tay để đi làm việc khác không? Nó có nhận thức được rằng sự cố kia mới là chuyện cấp bách hơn công việc trước mắt hay chăng? Nếu có thể tìm được chứng cứ chứng minh điều này, đó mới là bằng chứng xác đáng cho thấy côn trùng có lý tính.
Dưới đây là vài chuyện thuộc về tình huống thứ nhất.
Một con Thạch Phong vừa trát xong lớp đầu tiên của nắp tổ, liền bay ra ngoài tìm thêm bùn vữa để gia cố. Nhân lúc nó vắng mặt, tôi dùng một chiếc kim đâm xuyên qua nắp, khoét ra một lỗ thủng to bằng nửa miệng tổ. Sau khi Thạch Phong quay về, nó đã trám kín lỗ thủng đó lại hoàn toàn. Trường hợp thứ hai, một con tò vò đang xây tổ, mới chỉ đắp được vài lớp, trong tổ chưa hề chứa mật. Tôi liền chọc một lỗ lớn ở đáy chén tổ, tò vò vội vã vá lại ngay. Nó thản nhiên xoay người trám kín lỗ thủng rồi tiếp tục công việc của mình. Con Thạch Phong thứ ba thì đã đẻ trứng và niêm phong tổ xong xuôi. Thừa lúc nó ra ngoài tìm bùn vữa để bít kín cửa tổ lần cuối, tôi khoét một lỗ hổng lớn ở vị trí gần sát nắp, lỗ khoét khá cao để bảo đảm mật không chảy ra ngoài. Một lát sau, Thạch Phong mang vữa trở về, số vữa này vốn không dùng để bịt nắp, nhưng khi phát hiện trên nắp có lỗ thủng, nó liền trám lại thật cẩn thận. Điều này thực sự đáng nể, một loài côn trùng có năng lực nhận biết chuẩn xác đến thế quả là hiếm thấy. Dẫu vậy, chúng ta cũng đừng vội khen ngợi quá lời. Khi Thạch Phong quay về thấy cửa tổ có vết nứt, nó chỉ ngỡ mình chưa bịt kín nên mới tiếp tục trát cho xong. Việc này rốt cuộc cũng chỉ xem như nó đang hoàn thành công việc hiện tại mà thôi.
Từ vô số sự việc tương tự, tôi rút ra ba ví dụ trên, qua đó có thể đưa ra kết luận: Côn trùng hoàn toàn có thể ứng phó với các sự cố ngẫu nhiên, miễn là chuyện đó vẫn nằm trong phạm vi công việc dang dở của chúng. Côn trùng luôn duy trì tâm lý hoàn thành công việc, việc gì đã bắt đầu thì ắt phải làm cho xong. Chúng ta không thể khẳng định đây là lý trí, sự ứng phó trước những biến cố bất ngờ ấy chẳng qua chỉ là chút tu bổ, hoàn thiện cho những chỗ chưa đạt yêu cầu.
Nếu chúng ta cho rằng hành vi này của côn trùng xuất phát từ lý trí, thì sự việc tiếp theo đây sẽ làm đảo lộn hoàn toàn nhận định ấy. Trường hợp thứ nhất, chén tổ chưa sâu nhưng đã chứa đầy mật, chủ nhân của nó lại bay đi kiếm mật tiếp. Tôi chọc một lỗ ở đáy chén, mật liền chảy ra. Một tình huống khác, tổ ong về cơ bản đã xây xong, bên trong chứa một lượng lớn mật ong, tôi cũng chọc một lỗ dưới đáy tổ để mật chảy sạch ra ngoài. Dựa theo những thí nghiệm trước, độc giả có lẽ sẽ nghĩ Thạch Phong sẽ lập tức sửa chữa lỗ thủng khổng lồ này — bởi đây là biến cố trọng đại liên quan trực tiếp đến tính mạng của ấu trùng! Thế nhưng Thạch Phong bay đi bay lại biết bao lần, khi thì chở mật, lúc lại tha vữa, tuyệt nhiên chẳng có con nào buồn đoái hoài đến lỗ thủng chết người kia. Đứa nào đứa nấy đều răm rắp làm tròn bổn phận, làm như chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Khi cái tổ bị chọc thủng đã được đắp đủ cao và tích trữ đủ thức ăn, Thạch Phong liền đẻ trứng vào trong, niêm phong cửa tổ, rồi tiếp tục đi xây tổ mới, không hề áp dụng bất kỳ biện pháp nào trước hiện tượng rò rỉ mật. Qua hai ba ngày, mật trong các tổ này chảy ra sạch trơn, để lại những vệt dài loang lổ trên bề mặt tổ.
Nguyên cớ rốt cuộc là vì đâu? Do trí lực không đủ, hay vì bất lực trước hoàn cảnh? Lẽ nào bùn vữa Thạch Phong chuẩn bị không thể đông cứng trên phần mép đã dính nhớp mật ong, khiến mật chảy ra làm vữa mất đi tác dụng? Có phải Thạch Phong cảm thấy bất lực nên mới phó mặc buông xuôi? Nhưng lúc này tôi vẫn chưa thể đưa ra kết luận, cần phải kiểm chứng thêm lần nữa. Tôi dùng nhíp cướp lấy viên vữa của một con Thạch Phong, đem dán vào miệng lỗ đang chảy mật. Tôi đã thành công! Dù thủ pháp vụng về, chẳng thể sánh với tay thợ hồ cừ khôi, nhưng làm được đến mức này đã là rất cừ rồi. Lớp vữa tôi dùng bay trát lên đã bám chặt vào vách tường bị rách toang, vữa dần khô cứng, mật không còn chảy nữa. Nếu để Thạch Phong ra tay, chắc chắn nó còn hoàn thành xuất sắc hơn nhiều! Nói cách khác, Thạch Phong không làm chẳng phải vì bất lực, mà chỉ đơn giản là nó không muốn làm. Ngay lập tức sẽ có người phản bác rằng: Mật ong chảy ra là do tổ bị chọc thủng, muốn mật không chảy nữa thì phải bít lỗ lại, nhưng suy nghĩ ấy quá đỗi thâm sâu đối với Thạch Phong, rốt cuộc đầu óc nó cũng chỉ bé tí tẹo mà thôi; vả lại cái lỗ đã bị dòng mật chảy che khuất, làm sao côn trùng phát hiện ra được?
Tôi từng thấy trường hợp thế này: Chọc một lỗ rộng chừng ba bốn mi-li-mét ở đáy một tổ ong chưa chứa mật, chẳng bao lâu sau sẽ có con Thạch Phong đến bít lại. Một khi lỗ thủng đã được vá, Thạch Phong mới bắt đầu trữ thức ăn. Tôi lại chọc một lỗ ngay đúng vị trí ấy, đến khi Thạch Phong mang phấn hoa về lần đầu tiên đổ vào tổ, phấn liền lọt qua miệng lỗ rơi ra ngoài. Biến cố này bị Thạch Phong phát hiện. Khi thò đầu vào xem xét số mật vừa tích trữ, nó dùng râu dò dẫm cái lỗ nhân tạo, đập đập, thăm dò. Chắc chắn nó đã nhận ra cái lỗ. Thậm chí tôi còn nhìn thấy râu của nó rung rinh bên ngoài miệng lỗ. Một lát sau nó bay đi, tôi thầm đoán liệu nó có mang vữa về để vá lỗ thủng hay không?
Hoàn toàn không. Nó mang mật ong trở về, nhả mật ra, quét phấn hoa xuống, rồi nhào trộn. Hỗn hợp mật quánh dẻo có thể tạm thời bịt kín lỗ hổng mà không chảy ra ngoài. Tôi dùng que giấy khều sạch chỗ bị tắc, cái lỗ lại lộ ra, nhìn một cái là thấy rõ bên trong. Hễ Thạch Phong tha thức ăn về làm nghẽn lỗ thủng, tôi đều quét sạch đi. Có khi làm ngay trước mặt nó, có khi làm lúc nó vắng mặt, tôi cứ ngang nhiên cướp phá kho lương như thế, khiến cho lỗ hổng dưới đáy tổ luôn mở toang. Dù Thạch Phong nhìn thấy tường tận mọi sự, nó vẫn cắm cúi làm phần việc trước mắt, chẳng hề biết chèn một cái nút vào thùng rượu của Đạt Nạp Y Đặc. Nó cố chấp muốn lấp đầy vật chứa đã thủng đáy, dẫu cho lương thực cứ bỏ vào là biến mất tăm. Nó không ngừng đắp căn phòng nhỏ này cao thêm, liên tục tha lương thực về, còn tôi thì cứ chọc lỗ cho mật ong chảy đi. Tôi tận mắt chứng kiến nó đi đi lại lại tới ba mươi hai lần, khi thì mang mật, lúc lại đem vữa, duy chỉ không biết phải bịt cái lỗ dưới đáy phòng.
Năm giờ chiều, Thạch Phong gác lại công việc, sang ngày hôm sau lại tiếp tục. Lần này tôi không phá hoại nữa mà mặc cho dòng mật từ từ chảy ra. Cuối cùng Thạch Phong đẻ trứng, niêm phong cửa tổ, tuyệt nhiên không áp dụng bất kỳ biện pháp nào đối với cái lỗ tai họa kia. Một mẩu bùn vữa vốn là cái nút chặn tuyệt vời, khi căn phòng nhỏ này còn trống rỗng, nó lập tức vá ngay cái lỗ tôi chọc ra. Tại sao hễ chứa đồ vào trong là nó lại không biết làm nữa? Điều này chứng minh rằng, Thạch Phong sẽ không quay lui về công việc trước đó. Khi lỗ thủng đầu tiên xuất hiện, Thạch Phong vừa vặn đang xây tổ, công việc lúc ấy liên quan trực tiếp đến sự phá hoại của tôi. Một cái lỗ nhỏ chỉ là khuyết điểm trong quá trình xây dựng, hiện tượng này vốn thường thấy ở những căn phòng mới đắp, cho nên việc Thạch Phong sửa chữa khuyết điểm này chẳng qua là để hoàn thiện công việc của mình.
Thế nhưng khi đã bắt đầu tích trữ lương thực, công đoạn xây phòng coi như đã hoàn tất. Cho dù xảy ra vấn đề gì đi nữa, Thạch Phong cũng sẽ không bận tâm. Việc lấy mật đòi hỏi nó phải tiếp tục lấy mật, dẫu cho phấn hoa có theo lỗ thủng rơi cả xuống đất. Muốn bịt lỗ thủng, nó buộc phải biến trở lại thành thợ nề, nhưng Thạch Phong không thể làm được điều đó; một khi đã bắt đầu gom mật, nó không thể quay lại thu thập bùn vữa. Đến khi việc lấy mật tạm dừng, nó sẽ lại tha vữa về để đắp công trình cao thêm một tầng nữa. Dẫu lúc này Thạch Phong cần phải nhào nặn vữa, nó cũng chẳng buồn ngó ngàng đến chỗ rò rỉ dưới đáy. Giờ đây thứ nó bận tâm là tầng phòng đang xây dở. Chỉ khi tầng này xảy ra sự cố, nó mới chịu sửa chữa. Còn vấn đề dưới đáy, dù có nghiêm trọng đến đâu cũng đã là chuyện quá khứ rồi, con Thạch Phong này tuyệt đối không đoái hoài tới nữa.
Không chỉ riêng cái lỗ nhỏ này, tầng hiện tại và các tầng sắp xây sau này đều chịu chung một quy luật. Nghĩa là chỉ có tầng đang thi công mới nhận được sự giám sát chặt chẽ của Thạch Phong, một khi đã xây xong thì khó tránh khỏi số phận bị lãng quên. Dưới đây là một ví dụ khác của tôi. Trên một tổ ong đã xây xong, tôi khoét một lỗ lớn ngay giữa khối mật dẻo. Thạch Phong tha vữa về một lúc rồi bắt đầu đẻ trứng. Qua cái lỗ này, tôi thấy Thạch Phong đẻ trứng lên khối mật, sau đó đậy nắp lại hết sức cẩn thận. Từng kẽ hở trên nắp đều được nó tỉ mỉ trát kín, duy chỉ có cái lỗ lớn tôi chọc thủng là vẫn mở toang hoác. Thậm chí nó còn nhiều lần quay lại chỗ khoét này, thò đầu vào kiểm tra, nhưng chưa từng mảy may nghĩ đến việc dùng vữa trám lại. Tổ đã thủng thì cứ để thủng. Ai bảo chỗ đó bị phá từ trước, nó sẽ chẳng thèm đếm xỉa tới đâu.
Những ví dụ này đã đủ chứng minh, côn trùng hoàn toàn bất lực trước những sự cố ngẫu nhiên, sự bất lực thuần túy về mặt tâm lý. Nhận định này đã được chứng minh lặp đi lặp lại qua nhiều thí nghiệm. Chỉ có thí nghiệm nhiều lần mới là điều kiện tất yếu để hoàn thiện mọi cuộc khảo sát. Tuy nhiên, chỉ làm đi làm lại bấy nhiêu vẫn chưa đủ, tôi còn phải thử nghiệm bằng nhiều phương thức khác nhau. Bây giờ tôi sẽ kiểm tra trí lực của côn trùng từ một góc độ khác. Mọi loài côn trùng cánh màng đều ưa sạch sẽ, Thạch Phong cũng không ngoại lệ. Chúng không dung thứ cho bất kỳ thứ bẩn thỉu nào rơi vào hũ mật của mình. Thế nhưng vật chứa này lại để mở, thường xuyên có rác rưởi rơi vào phần mật quý giá. Chẳng hạn như thợ cái ở tầng trên làm rơi vữa xuống tầng dưới; ong chúa khi cơi nới hũ mật làm rơi mẩu vữa nhỏ vào mật; ruồi nhặng bị mùi mật thu hút rồi sa chân dính chặt; những con Thạch Phong nhỏ trong tổ cũng thường xuyên tranh giành lãnh địa mà làm bụi bặm vương vãi lên mật. Do đó, chúng rất biết cách dọn sạch dị vật khỏi tổ, hơn nữa còn vô cùng thành thạo.
Bởi vậy, tôi thả vào trong tổ một dị vật — năm sáu mẩu rơm vụn dài chừng một mi-li-mét, đặt ngay trên lớp mật quý giá nhất của Thạch Phong. Khi nhìn thấy đống rác này, Thạch Phong tỏ ra vô cùng kinh ngạc — kho lương của nó xưa nay chưa từng bẩn thỉu đến thế. Thạch Phong liền lôi từng cọng rơm đi, cọng nào cũng bị nó vứt ra thật xa. Việc này xử lý khó hơn nhiều so với việc dọn dẹp mặt bằng. Tôi thấy nó bay qua một cây ngô đồng cao hơn mười mét bên cạnh, vứt bỏ mẩu rơm đáng ghét kia. Nó không thể vứt thẳng xuống dưới tổ của mình, bằng không nơi đó sẽ bị rác rưởi lấp đầy mất.
Tôi lại đem một quả trứng mà Thạch Phong vừa đẻ ngay trước mắt mình đặt lên lớp mật của một tổ khác. Thế nhưng con Thạch Phong kia lập tức tha quả trứng ấy vứt đi, chẳng khác nào cọng rơm lúc nãy. Việc này chí ít cũng nói lên hai điều. Thứ nhất: Thạch Phong chỉ biết trân quý trứng của chính mình, hễ là con của kẻ khác thì thẳng tay ném bỏ. Nó yêu gia đình mình tha thiết bao nhiêu thì lại tàn nhẫn, lạnh lùng với đồng loại bấy nhiêu. Thứ hai, tôi thầm nghĩ lũ ký sinh trùng làm cách nào để lẫn trứng của mình vào tổ Thạch Phong, khiến ấu trùng của chúng cùng hưởng chung nguồn thức ăn? Đứng trước câu hỏi này, tôi thực sự bó tay. Nếu ký sinh trùng đẻ trứng lên mặt mật, Thạch Phong nhất định sẽ quẳng đi. Còn nếu đợi Thạch Phong đẻ xong mới lẻn vào đẻ ké thì lại càng không có cửa, bởi hễ đẻ xong là nó lập tức bít cửa tổ lại ngay. Thật hết cách, đành để người khác giải đáp khúc mắc này vậy.
Sau cùng, tôi cắm một cọng rơm dài chừng hai ba tấc vào lớp mật, chiều dài của nó vượt xa chiều cao của tổ ong. Thạch Phong phải tốn rất nhiều công sức mới vứt được cọng rơm dính mật ấy đi. Tôi nán đợi đến lúc nó chuẩn bị đẻ trứng, hai chân trước chống lên gờ đá, bụng thò sâu vào trong tổ; vừa đẻ xong, lúc nó chuẩn bị bít cửa, tôi liền gạt bà mẹ ấy sang một bên. Ngay sau đó, tôi cắm vào một cọng rơm dài chừng một tấc. Lúc này Thạch Phong sẽ làm gì? Nếu muốn tổ sạch không tì vết, nó buộc phải rút cọng rơm ra, bằng không cọng rơm sẽ hủy hoại ấu trùng. Tôi vừa tận mắt thấy nó vứt đi một cọng rơm dài gấp hai ba lần cọng này, vậy nên chuyện đó chẳng phải vượt quá khả năng của nó. Nó rõ ràng làm được, nhưng lại không làm. Nó bay đi bay lại bao nhiêu chuyến để niêm phong tổ, cọng rơm bị vữa bọc chặt và trát thêm một lượng lớn bùn vôi để gia cố. Nó hoàn toàn ngó lơ cọng rơm ấy. Cứ như thế, tôi làm thí nghiệm liên tiếp tám lần, lần nào cũng thấy trên miệng tổ đã hoàn thành chĩa ra một cọng rơm trơ trọi. Chẳng phải đây chính là bằng chứng cho sự u mê ngu muội của Thạch Phong hay sao?
Tôi còn nhận thấy rằng, ở lần thứ hai tôi cắm cọng rơm vào, vì đôi hàm của Thạch Phong đang ngậm đồ nên công cụ đào bới không thể sử dụng. Tôi đoán nó sẽ chịu bỏ miếng vữa đi để nhổ cọng rơm kia. Nó gom chỗ vữa ấy chỉ mất ba bốn phút, chứ nếu là đi thu thập phấn hoa thì phải tốn hơn mười phút. Vứt vữa đi, nhổ cọng rơm ra, rồi lại đi lấy vữa mới, cùng lắm chỉ mất độ năm phút. Nhưng Thạch Phong không hề làm vậy. Nếu không dùng vữa bịt kín cửa tổ, lũ ấu trùng có thể sẽ chết. Còn nếu bít nắp xong mới nhổ rơm thì nắp tổ rất dễ rơi xuống vỡ tan. Thạch Phong hiển nhiên không muốn thế, nó đành tiếp tục chở bùn vôi về để gia cố nắp. Có lẽ nó vẫn còn lựa chọn thứ hai: đặt vữa tạm lên gờ tổ, giải phóng đôi hàm để nhổ rơm, rồi lập tức nhặt vữa lên bít cửa lại. Nhưng Thạch Phong không chọn cách đó, vữa đã mang về là phải dùng ngay tức khắc.
Nếu có ai nhìn thấy chút lý tính nào trong hành vi ấy của Thạch Phong, thì người đó hẳn phải sở hữu đôi mắt tinh tường hơn bất kỳ ai. Tôi chỉ cảm thấy rằng, loài côn trùng một khi đã bắt đầu một hành vi nào đó thì buộc phải làm một mạch cho xong. Cặp hàm đã ngậm viên vữa, chừng nào chưa trát xong thì chừng ấy tuyệt đối không nhả ra. Cứ như bánh răng đã vào khớp là các bánh răng khác bắt buộc phải quay theo vậy. Nực cười hơn nữa là, một khi công trình bít cửa đã khởi công thì bắt buộc phải hoàn thành, dẫu có phải tốn thêm bao nhiêu mẻ vữa mới kiếm về. Nó dốc sức gia cố một cánh cửa hoàn toàn vô dụng, nhưng lại chẳng mảy may bận tâm đến cọng rơm đe dọa trực tiếp tới sự sống còn của ấu trùng. Đâu ra thứ ánh sáng lý tính soi đường cho loài côn trùng ở đây chứ?
Lại có một ví dụ khác còn giàu sức thuyết phục hơn. Lượng mật tích trữ trong tổ được chuẩn bị dựa theo nhu cầu của ấu trùng tương lai. Vậy làm sao Thạch Phong biết được số mật tích trữ đã đủ hay chưa? Hóa ra dung tích các tổ ong gần như đều như nhau, mật chỉ chiếm chừng hai phần ba, còn lại một khoảng trống khá lớn. Thạch Phong phải căn cứ vào độ cao của lớp mật để ước lượng số thức ăn bên trong. Nhưng nếu chỉ dựa vào mắt nhìn thì không đủ. Nếu là tôi, tôi sẽ cần một dụng cụ đo đạc, nhưng Thạch Phong đâu có thứ đó. Chúng chỉ cần nhìn vào phần không gian còn trống là biết đã chứa được bao nhiêu mật. Đó hẳn là một tầm mắt chuẩn xác chẳng kém gì một nhà hình học. Nếu nó thực sự dựa vào các nguyên lý của Euclid để dẫn lối thì quả là phi thường, và ví dụ này cũng sẽ chứng minh Thạch Phong có một chút lý tính le lói.
Khi năm tổ ong đều đã trữ đầy thức ăn, tôi dùng kẹp gắp một cục bông vét sạch mật bên trong. Thạch Phong tha thức ăn mới về, tôi lại nạo sạch đi. Có lúc nạo không còn một giọt, có lúc để lại một lớp mỏng dính. Dẫu đàn Thạch Phong đều thấy rõ hành vi cướp bóc của tôi, chúng vẫn cắm cúi làm việc tiếp. Cho dù nhìn thấy sợi bông dính bên trên, nó cũng chỉ gắp ra rồi đem vứt tít đằng xa như mọi bận. Cuối cùng, Thạch Phong đẻ trứng rồi bít kín cửa tổ lại. Đến khi tôi cạy năm cánh cửa đã niêm phong ra xem: ở tổ thứ nhất, trứng được đẻ trên lớp mật dày ba milimét; hai tổ tiếp theo, mật chỉ dày chừng một milimét; còn hai tổ cuối cùng, bên dưới quả trứng hoàn toàn không có lấy một giọt mật, tất cả chỉ vì tôi đã dùng bông dính mật quét lên vách tổ một lớp màng mỏng như quét sơn.
Kết quả thí nghiệm quá đỗi rõ ràng: côn trùng không hề căn cứ vào độ dày của lớp mật để phán đoán số lượng thức ăn. Nó chẳng hề suy luận gì hết, bên trong nó chỉ có một nguồn sức mạnh thôi thúc nó đi lấy mật, cho đến khi thức ăn được chuẩn bị đầy đủ mới thôi. Đợi tới khi sự thôi thúc ấy được thỏa mãn, nó sẽ ngừng lao động, bất chấp giữa chừng có xảy ra biến cố nào phá hủy công sức của nó hay không. Chẳng có cảm giác nào nhắc nhở nó về số lượng mật cả. Thiên tính của bản năng chính là người dẫn đường duy nhất. Trong phần lớn trường hợp, bản năng rất đáng tin cậy, nhưng một khi gặp phải sự cố bất ngờ, lũ Thạch Phong liền quay cuồng mất phương hướng. Làm sao nó có thể đẻ trứng vào một cái tổ trống không như thế được? Chẳng phải điều đó đã chứng minh nó hoàn toàn không có lý tính hay sao.
Ở một khía cạnh khác, bản năng cũng có cái hay của nó. Nó không để côn trùng tự quyết định mình phải làm gì, nhờ đó ít nhất cũng tránh cho chúng phạm phải sai lầm. Lẽ nào Thạch Phong có một thiên phú đặc biệt, có thể dự đoán trước khẩu phần mà ấu trùng cần đến? Nó hoàn toàn mù tịt. Thế nhưng ngay từ lần đầu thử sức, người mẹ này đã có thể đong mật chuẩn xác tới mức cần thiết. Dẫu thuở nhỏ nó từng được hưởng một lượng mật tương đương, nhưng dẫu sao đó cũng là chuyện thời thơ ấu. Trong tổ tối tăm đến thế, bản thân nó khi ấy lại chẳng thấy đường, nên câu trả lời từ đôi mắt coi như bằng không. Vậy ta có thể suy đoán là dạ dày đã ghi nhớ lượng thức ăn — bởi chính dạ dày đã tiêu hóa chỗ thức ăn ấy. Nhưng ngặt nỗi thời gian đã trôi qua cả một năm trời, Thạch Phong cũng đã lớn. Chúng ta đâu thể nhớ nổi lúc nhỏ nằm trong lòng mẹ mình đã bú bao nhiêu ngụm sữa, lẽ nào Thạch Phong lại nhớ được sức ăn thời thơ ấu của mình? Cho nên Thạch Phong cũng chẳng hề dựa vào ký ức. Rốt cuộc nó lấy tiêu chuẩn gì để đong đếm lượng mật cần dành cho con? Mỗi người mẹ, để không mắc sai lầm, đều phải sở hữu một thiên tính đặc biệt. Chính bản năng ấy đã dựng sẵn một thước đo chuẩn mực ở trong lòng nó.
