Chương 47
Chương 47: Đời sống của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong
Đăng ngày 27/09/2026
19
Màng cánh khi tấn công thường nắm rất rõ nhược điểm duy nhất của đối phương. Chẳng hạn, chúng có thể tìm ra chuẩn xác những mối nối mỏng manh giữa các phiến giáp cứng như sắt của cánh cứng, rồi cắm mũi kim độc vào đúng vị trí hiểm yếu ấy. Chúng hay chọn những con mồi có cơ quan thần kinh tập trung cao độ như vòi voi hay Cát Đinh để hạ thủ, chỉ một kích là đâm trúng ba trung khu thần kinh vận động. Nhưng nếu đụng phải loài côn trùng da mềm không mang giáp trụ, một đối thủ mà trong lúc vật lộn có đâm vào đâu cũng chẳng hề hấn gì, thì màng cánh sẽ xoay xở ra sao? Kẻ thủ ác khi đoạt mạng thường nhắm thẳng vào tim, khiến nạn nhân mất khả năng chống cự chỉ sau một đòn, đỡ cho bản thân bao phiền toái. Liệu màng cánh có giống như Tiết Phúc Nê Phong, dùng thủ đoạn của phường thảo khấu, thà đâm hỏng hạch thần kinh vận động hay không? Nhưng nếu các hạch thần kinh vận động của đối thủ không nối liền nhau, dẫu có bị đâm trúng một hạch thì những hạch khác vẫn hoạt động bình thường, khi ấy kẻ thủ ác phải làm thế nào? Quan sát hành vi săn dế của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong, có lẽ chúng ta sẽ tìm được lời giải đáp cho những câu hỏi trên.
Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong phá kén chui ra vào độ tháng Bảy. Nó bay khỏi chiếc nôi tối tăm dưới lòng đất, lượn lờ trên những nhánh đầy gai của cúc gai, thảnh thơi tận hưởng tháng Tám tươi đẹp. Cúc gai là loài thực vật mọc rậm rạp và phổ biến, thường nở rộ dưới nắng gắt giữa hè, cung cấp mật ngọt cho Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong. Thế nhưng vừa qua tháng Tám, Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong buộc phải chọn một khoảnh đất nhỏ trên sườn dốc ven đường, bắt tay vào hai nhiệm vụ gian nan: đào bới và săn mồi.
Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong thường tụ tập làm việc theo đàn, hiếm khi đơn thương độc mã. Chúng hay tụ lại thành nhóm mười con, hai mươi con hoặc nhiều hơn nữa để cùng nhau khai khẩn bãi đất đã chọn. Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong luôn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định vị trí dựng nhà. Nói về nơi định cư của chúng, có hai điều kiện không thể thiếu: một là đất cát phải dễ đào xới, một bãi đất bằng phẳng không bị che chắn hay dầm mưa dãi gió tự nhiên là thích hợp nhất; hai là bắt buộc phải đón nắng, có ánh mặt trời chiếu rọi chan hòa. Nếu đúng lúc Phi Hoàng Nê Phong đang đào đất mà trời đổ một cơn mưa rào thì kể như khốn đốn, chúng buộc phải bỏ dở công trình chưa xong, đường hầm đang xây dựng sang ngày hôm sau sẽ bị đất cát vùi lấp thành một mớ hỗn độn.
Xây tổ là một công trình trường kỳ và gian khổ, thường kéo dài suốt cả tháng Chín. Nếu muốn hiểu rõ tình cảnh lao động của chúng, người ta phải dán mắt vào cùng một công trường suốt nhiều ngày liền, ngắm nhìn những người thợ mỏ cần mẫn thoăn thoắt nhảy nhót, hoạt động mau lẹ, làm việc vừa bận rộn lại vừa nhiệt tình. Bụi đất mù mịt khắp công trường, những người thợ dùng hàng cào trên hai chân trước mà Lâm Nại ví như “nhát dao sắc bén” để nhanh chóng bới đất. Vừa làm việc chúng vừa cất giọng ngân nga giai điệu lao động vui vẻ, dùng tiếng hát ngắt quãng chói tai khích lệ bạn nghề xung quanh, phối hợp với độ rung của đôi cánh và lồng ngực, lúc bổng lúc trầm như đang gõ nhịp trống. Thật là một lũ bạn vui tươi biết bao! Nếu gặp phải hòn sỏi to tốn sức, chúng sẽ như tiều phu dồn hết bình sinh, phát ra một tiếng rống tựa như tiếng hò kéo gỗ, cả lũ cùng hợp sức dùng cả chân lẫn hàm, ra sức gấp bội, chẳng mấy chốc cái hốc nhỏ đã thành hình. Những hòn sỏi quá lớn bị chúng cào từng chút một sẽ lăn ra xa khỏi công trường, còn bụi đất li ti thì phủ lên đôi cánh đang rung rinh nhè nhẹ. Kế đó, chúng chui tọt cả thân mình vào chiếc hốc nhỏ, ta không còn nhìn thấy bóng dáng những người thợ mỏ chăm chỉ làm việc nữa, song vẫn nghe được tiếng ca hát không biết mệt mỏi của chúng dưới lòng đất. Vậy chúng làm việc ra sao? Phi Hoàng Nê Phong nép mình trong đường hầm, một mặt đào những hạt cát mới về phía trước, mặt khác lại gạt vụn đất ra phía sau, hai động tác thay đổi mau lẹ, tới lui dồn dập, nhảy nhót liên hồi, bụng giật giật, râu rung rinh, toàn thân rung bần bật phát ra tiếng kêu, hệt như bị buộc vào một sợi lò xo rồi bật mạnh. Thỉnh thoảng, chúng lại ngắt quãng công việc dưới lòng đất, trồi lên ánh mặt trời vươn vai một cái, giũ sạch những hạt bụi bám vào các khớp xương nhỏ bé — thứ bụi bặm cản trở cử động tự do của chúng; hoặc tranh thủ chốc lát nghỉ ngơi ngắn ngủi để đi tuần tra xung quanh. Chỉ trong vài giờ, đường hầm đã đào xong, công việc còn lại của Phi Hoàng Nê Phong chỉ là hoàn thiện khâu trang trí cuối cùng cho toàn bộ công trình: dọn sạch những hòn sỏi mà trong mắt muôn phần nhỏ bé của chúng có thể gây vướng víu, cạo phẳng những chỗ gồ ghề lồi lõm trên vách tường, dĩ nhiên trước khi làm việc này chúng sẽ cất khúc khải hoàn ngay cửa hầm để ăn mừng ngày hoàn công.
Muốn quan sát kỹ ngôi nhà đã hoàn thiện của Phi Hoàng Nê Phong, cần phải nhân lúc chúng đi săn phương xa. Trên một khoảnh đất bằng nhưng không hẳn nhẵn nhụi, nơi có mô đất gồ lên phủ một túm cỏ hay bụi ngải, hoặc mép nếp gấp được rễ cây con bấu chặt vào, chính là địa điểm lý tưởng để Phi Hoàng Nê Phong xây tổ. Lối vào đường hầm thoạt tiên là một tiền sảnh nằm ngang, sâu chừng hai ba phân Pháp, vừa là kho chứa thức ăn kiêm phòng ngủ của ấu trùng, vừa là lối dẫn vào nơi ẩn náu. Qua khỏi tiền sảnh là một khúc ngoặt gấp, dốc thoai thoải đâm xuống dưới chừng hai ba phân Pháp, tận cùng hang sâu là một buồng ong hình bầu dục. Để tránh sụt lở, đất cát trong buồng ong đều được nén thật chặt, sàn nhà, trần nhà và vách tường đều được san phẳng cẩn thận, nhờ đó lớp da non nớt của ấu trùng sẽ không bị bề mặt tường thô ráp cọ rách. Dẫu bốn bề trống trơn, nhưng ngần ấy cũng đủ thấy nó được thiết kế và xây dựng kỳ công dường nào. Đường kính buồng ong khá dài, trục ngang chính là trục dài nhất. Cửa thông giữa buồng ong và lối đi cực kỳ chật hẹp, chỉ vừa đủ cho một con ong mang theo con mồi chui lọt. Trong một chiếc hang thường có ba buồng ong như thế, loại hai buồng thì ít hơn, còn bốn buồng lại càng hiếm gặp. Phi Hoàng Nê Phong đẻ một quả trứng vào buồng ong thứ nhất, chuẩn bị đầy đủ thức ăn cho ấu trùng sắp chào đời, sau đó bèn bịt kín cửa buồng lại, đào tiếp buồng thứ hai ở bên cạnh, cũng đẻ trứng và trữ thức ăn như vậy, rồi lại đào buồng thứ ba, hãn hữu lắm mới đào buồng thứ tư. Đến lúc này, Phi Hoàng Nê Phong mới đem toàn bộ đất vụn vun ở cửa vần ngược vào trong hang, xóa sạch mọi dấu vết để lại bên ngoài. Qua giải phẫu xác Phi Hoàng Nê Phong, người ta biết số lượng trứng nó đẻ ra lên tới ba mươi quả, như vậy tối thiểu cần phải có mười cái tổ.
Thời gian Phi Hoàng Nê Phong xây một cái tổ và chuẩn bị thức ăn rất ngắn ngủi, cùng lắm chỉ hai ba ngày, bởi vì chúng buộc phải hoàn tất mọi việc trước cuối tháng Chín. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, con bọ chăm chỉ phải tranh thủ từng giây từng phút chuẩn bị cho đủ một tá dế mèn, ngậm đắng nuốt cay tha thức ăn về tổ, cất vào kho tàng, cuối cùng niêm phong tổ lại, đó là một chuỗi lao động phiền toái biết bao! Huống chi còn đụng phải những ngày mưa dầm gió bấc không thể đi săn, mọi công việc đều phải đình lại, Phi Hoàng Nê Phong chỉ đành nấp trong tiền sảnh, đêm trốn ngày nghỉ, thò khuôn mặt giàu biểu cảm cùng đôi mắt to không biết sợ hãi ra ngoài cửa hang. Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong không giống loài Lịch Cức Tiết Phúc Nê Phong truyền lại chiếc hang kiên cố từ đời này qua đời khác, hang của lũ kia thường dùng được rất nhiều năm, năm sau đào sâu hơn năm trước, lúc tôi muốn ghé thăm nhà chúng, dẫu dùng cả công cụ đào bới cũng không đào tới đáy, thường mệt đến toát mồ hôi hột. Ngược lại, hang của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong hệt như một chiếc lều dựng vội, dùng hôm nay ngày mai đã dỡ bỏ, chúng thích tay trắng làm nên hơn, việc gì cũng tự thân vận động, lại còn muốn mau chóng thấy ngay kết quả. Người mẹ thông minh biết mặc cho con nhộng ba bốn lớp áo khoác không thấm nước ở nơi ẩn náu, bổ sung thứ mà bản thân không thể tạo ra, thế nên dẫu ấu trùng Phi Hoàng Nê Phong chỉ phủ một lớp the mỏng, song vẫn cao minh hơn nhiều so với chiếc kén mỏng dính của Tiết Phúc Nê Phong, điều này cũng bù đắp cho khiếm khuyết hang ổ thiếu phần kiên cố.
Đa số Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong đều làm việc trên đất bằng, trong nền đất tự nhiên, tôi từng quan sát rất nhiều đàn ong như vậy, song một bầy Phi Hoàng Nê Phong dựng tổ bên mép đường lớn lại để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Chúng chọn vài đống đất nhỏ ven đường, rõ ràng là do công nhân sửa đường dùng xẻng vét mương đắp lên. Trong đó có một đống đất hình nón cao hơn nửa mét đã bị nắng nung khô khốc tự bao giờ, từ chân đống lên tận đỉnh chi chít những hang cùng hốc, nhìn từ xa, khối đất khô hình nón này trông chẳng khác nào một tảng bọt biển lớn. Bầy Phi Hoàng Nê Phong dường như rất chuộng nơi này, bèn lập nên một ngôi làng nhỏ ở đây, tôi chưa từng thấy một ngôi làng nào đông đúc cư dân đến thế. Ngôi làng rõ ràng vẫn chưa hoàn thành xong xuôi, hệt như một đại công trường đang gấp rút thi công, trong ngoài hừng hực khí thế, cư dân qua lại tấp nập rộn ràng, bụi đất tuôn trào theo các đường hầm đào bới, chốc chốc lại thấy những người thợ mỏ mặt mũi lấm lem xuất hiện nơi miệng hang hay ra vào thoăn thoắt. Thỉnh thoảng có một con Phi Hoàng Nê Phong tranh thủ lúc rảnh rỗi bò lên đỉnh đống đất, dường như muốn đứng từ trên cao chiêm ngưỡng kiệt tác của mình. Những con dế bị bắt bị lôi tuột lên con dốc của tòa thành hình nón này, cất vào gian trữ lương thực trong tổ ong. Chao ôi! Tôi tha thiết muốn dời ngôi làng này cùng cư dân của nó đi biết chừng nào, để giữ lại cảnh tượng lao động đầy mê hoặc ấy! Nhưng đống đất to lớn cao ráo nhường kia, làm sao tôi bứng cả gốc rễ lên cho được? Chẳng qua chỉ là mộng tưởng hão huyền mà thôi.
Lúc này, một con Phi Hoàng Nê Phong bay vù vù trở về, đậu lên bụi rậm cách ngôi làng chừng một con rãnh nhỏ. Đôi hàm sắc bén của nó ngoạm chặt một chú dế béo múp, nom mệt đến đứt hơi — con dế kia trông chừng nặng gấp mấy lần thân xác nó. Nó nghỉ ngơi giây lát, quắp chặt con mồi bằng chân rồi dồn sức bật nhảy, vượt qua con rãnh chắn ngang trước cửa nhà, đáp đánh bịch xuống giữa làng. Kế đó, nó cưỡi lên mình tù binh, cắn chặt đôi râu đối phương, ngẩng cao đầu rảo bước đầy vẻ kiêu hãnh. Dù tôi đang ngồi ngay cạnh, kẻ săn mồi ngạo nghễ nọ chẳng hề lộ vẻ sợ sệt. Quãng đường còn lại cơ bản là cuốc bộ. Nếu mặt đất bằng phẳng, việc vận chuyển dĩ nhiên chẳng có gì khó khăn, nhưng hễ vướng phải cỏ rác chằng chịt, nó sẽ lỡ bước vấp vào một cọng rễ nào đó. Cảnh tượng ấy mới thú vị làm sao! Khi nhận ra mình có sức mà không dùng được, nó như sững sờ, lúc tiến lúc lùi, vắt óc tìm đủ mọi cách, cuối cùng mới mượn lực đập cánh để tiến lên, hoặc khéo léo lách qua chướng ngại vật, vượt qua ghềnh thác gian nan để kéo con dế về đích — tổ của nó. Phi Hoàng Nê Phong buông con mồi xuống, thoăn thoắt chui tọt xuống địa đạo, vài giây sau lại nhô đầu ra khỏi miệng hang, chộp lấy đôi râu con dế bên ngoài, giật mạnh một phát kèm theo một tiếng kêu hân hoan. Cứ thế, con mồi lọt thỏm xuống tận đáy sâu tổ ấm.
Theo như những gì tôi quan sát được ở các loài săn mồi cánh màng từ trước đến nay, chúng đều dứt khoát dùng hàm trên và hai chân giữa ôm chặt lấy con mồi rồi lôi thẳng vào sâu trong hang. Chỉ có loài Tiết Phúc Nê Phong do Đỗ Phúc Nhĩ quan sát là bắt đầu làm phức tạp hóa vấn đề, trước tiên tạm đặt Cát Đinh ở cửa hầm ngầm, bản thân lùi vào trong địa đạo để ngoạm lấy con mồi rồi kéo vào. Nhưng chiến thuật ấy so với Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong thì vẫn còn kém xa lắm. Vì sao Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong không kéo thẳng con dế vào địa đạo mà phải qua từng ấy bước nhiêu khê? Tại sao trước khi đưa mồi vào ổ nhất định phải kiểm tra một lượt? Phải chăng vì tính cẩn trọng, trước khi mang gánh nặng cồng kềnh xuống hang, nó luôn muốn liếc nhìn nơi ở xem mọi sự có bình thường hay không, hòng đuổi cổ lũ ký sinh mặt dày mày dạn thừa cơ chui vào lúc chủ vắng nhà? Cái gọi là ký sinh ấy chính là đủ loại ruồi muỗi nhỏ thuộc bộ Hai cánh chuyên nghề cướp đoạt, đặc biệt là loài Di Ký Oanh. Chúng luôn rình rập trước cửa hang của côn trùng cánh màng đi săn, chực chờ cơ hội thuận lợi để đẻ trứng lên mình con mồi của kẻ khác. Một trong những đối tượng bị Di Ký Oanh quấy nhiễu chính là Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong. Song, Di Ký Oanh tuyệt đối không bao giờ chui vào tổ của Phi Hoàng Nê Phong để làm bậy; chúng không dám xông bừa vào nhà kẻ khác, chẳng dám bước vào lối đi tối tăm, bởi nếu chẳng may chạm trán chủ nhà, chúng sẽ phải trả giá đắt cho hành vi khinh suất của mình. Huống hồ chúng hoàn toàn có thể tranh thủ lúc Phi Hoàng Nê Phong tạm bỏ con mồi ngoài miệng hang để đẻ trứng lên thân dế, phó thác giọt máu của mình cho con dế nuôi dưỡng, nên lời giải thích này xem ra không đứng vững. Phải chăng việc Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong phải xuống ổ ngó nghiêng trước là vì có một mối nguy hiểm nào đó lớn hơn đang rình rập đe dọa nó?
Có một lần, giữa bầy Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong đang cắm cúi làm việc, tôi phát hiện ra một tay thợ săn khác loài, đó là một con Hắc Sắc Bộ Giáp Phong. Khi Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong làm lụng, những loài cánh màng khác thường không được phép trà trộn vào, nhưng vị khách không mời này lại vô cùng điềm tĩnh, ung dung tha từng hạt cát, cọng cỏ khô và các mảnh vụn nhỏ khác đến bịt kín một miệng hang có kích thước y hệt như tổ của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong bên cạnh. Nó làm việc chăm chỉ đến mức chẳng ai mảy may nghi ngờ rằng trứng của người thợ này đã được chôn sâu dưới lòng đất kia. Tôi từng nhiều lần thấy loài Hắc Sắc Bộ Giáp Phong đẩy một con dế, tôi rất muốn tin đó là chiến lợi phẩm của nó, nhưng cái dáng vẻ đi lại không mục đích men theo vệt bánh xe luôn khiến tôi ngờ vực — trông nó quá giống kẻ đang tìm kiếm một cái hang vừa ý! Liệu nó có thực sự từng không quản gian khó mà đào bới hay chăng? Tôi chưa từng thấy bao giờ. Tệ hơn nữa, tôi từng thấy nó vứt bỏ con mồi của mình; hành vi phung phí lương thực ấy chẳng phải cho thấy con mồi đâu phải do nó nhọc công bắt được hay sao? Do đó tôi ngờ rằng, con dế này có khi là đồ nó nẫng tay trên trong lúc Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong bỏ mặc mồi ngoài cửa. Ngay khi con Hắc Sắc Bộ Giáp Phong trước mắt đang ra sức lấp miệng hang, một con Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong bồn chồn bay tới, nom chừng là chủ nhân hợp pháp của cái tổ này. Thường thì mỗi khi có kẻ ngoại tộc xâm lăng, nó nhất định sẽ xông vào xua đuổi để bảo vệ tổ ấm, thế nhưng lần này nó lại như phải vía mà lao vọt ra ngoài, phía sau là một con sâu bọ khác bám theo, rồi kẻ kia lại bình thản tiếp tục công việc của mình.
Tôi xem xét cái hang mà hai con côn trùng cánh màng tranh giành, phát hiện bên trong có một buồng tổ chứa bốn con dế làm lương thực dự trữ. Lượng thức ăn này vượt xa khẩu phần cần thiết cho ấu trùng của một con Hắc Sắc Bộ Giáp Phong, khiến mối hoài nghi trong tôi gần như biến thành điều chắc chắn. Hãy nhìn xem, Bộ Giáp Phong ung dung chăm chú bịt miệng hang, ai mà ngờ được nó không phải chủ nhân của cái tổ mà chỉ là một tên cướp nửa đường nhảy ra? Điều khiến tôi khó hiểu là, Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong to xác hơn đối thủ, sức lực cũng khỏe hơn, cớ sao lại chịu khoanh tay nhìn thành quả lao động vất vả bị cướp mất rồi hoảng hốt tháo chạy? Bỏ chạy mà không buồn giao chiến như thế chẳng phải quá đỗi nhu nhược hay sao? Phải chăng côn trùng cũng giống con người, bí quyết thành công nằm ở chỗ "táo bạo, táo bạo và táo bạo hơn nữa"? Tên cướp trước mắt quả thật đủ độ táo bạo; dẫu đối mặt với Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong to gấp đôi mình, nó vẫn điềm nhiên dạo bước tới lui. Ngược lại, con Phi Hoàng Nê Phong dù sốt ruột khôn xiết nhưng trước sau không dám lao vào tên cướp để đoạt lại mảnh đất thuộc về mình.
Tôi cũng ôm mối hoài nghi tương tự đối với Tiện Phục Bộ Giáp Phong như với Hắc Sắc Bộ Giáp Phong. Bụng của Tiện Phục Bộ Giáp Phong có một vệt trắng dài, trông tựa như loài Bạch Biên Phi Hoàng Nê Phong. Nó cũng dùng châu chấu làm thức ăn cho ấu trùng. Tôi chưa từng thấy nó đào địa đạo, nhưng lại từng bắt gặp nó lôi một con châu chấu đi. Có lẽ Tiện Phục Bộ Giáp Phong cũng chẳng thừa nhận thứ này thuộc về mình, đây rõ ràng không phải đối tượng săn bắt của chúng. Tôi bắt đầu suy ngẫm về tính hợp pháp của các chiến lợi phẩm, bởi giữa một số loài côn trùng khác nhau, khẩu phần ăn lại hoàn toàn có khả năng trùng khớp. Tôi từng tận mắt thấy Phó Hầu bộ giáp ong đường hoàng bắt được một con châu chấu non chưa mọc cánh, tự đào tổ rồi đem chiến lợi phẩm thu được từ trận chiến anh dũng cất vào trong làm lương thực dự trữ. Điều đó phần nào gỡ gạc lại thanh danh cho giống côn trùng này sau những nghi ngờ của tôi.
Vì thế, trước hành vi chui xuống đáy hang trước rồi mới tha mồi vào sau của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong, tôi chỉ có thể đưa ra vài giả thuyết mang tính hoài nghi để lý giải. Ngoài việc xua đuổi lũ ký sinh lẻn vào lúc vắng nhà, liệu nó còn có mục đích nào khác chăng? Tôi hoàn toàn mù tịt. Trí tuệ con người quá đỗi nghèo nàn, khó lòng giải thích nổi muôn hình vạn trạng các biểu hiện của bản năng, làm sao thấu tỏ được tâm lý của Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong? Nhưng tôi từng làm một thí nghiệm để chứng minh mô thức hành vi bất biến này của loài Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong, một thí nghiệm khiến tôi vô cùng phấn khích:
Khi Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong chui xuống lòng đất để tuần tra hang ổ, tôi nhặt con dế nó bỏ ngoài cửa lên, dời ra xa chừng vài tấc Pháp. Đến khi Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong ngoi lên, nó cất tiếng kêu như thường lệ, nhìn quanh ngó quất, cuối cùng phát hiện ra con mồi ở đằng xa. Thế là nó bò ra khỏi hang, kéo con dế đặt lại miệng lỗ rồi một mình tụt xuống hang. Tôi lặp lại trò cũ, lại dời con dế đi vài tấc Pháp. Phi Hoàng Nê Phong trồi lên, ảo não nhận ra con dế lại đổi chỗ, đành hậm hực tha mồi về, rồi bản thân vẫn lủi thủi chui xuống hang một mình. Cứ thế lặp đi lặp lại, tôi kiên nhẫn làm thí nghiệm trên cùng một con Phi Hoàng Nê Phong hơn bốn mươi lần; sự cố chấp trong chiến thuật của nó đã đánh bại cả lòng kiên trì làm thí nghiệm của tôi. Hết lần này đến lần khác, chiến thuật của nó không mảy may suy chuyển. Tôi tiếp tục làm thí nghiệm tương tự với tất cả những con Phi Hoàng Nê Phong mà tôi thấy hứng thú trong cùng một ngôi làng, chứng minh được tính ngoan cường bất khuất như đã miêu tả ở trên. Kết quả ấy khiến tôi phải trăn trở suy nghĩ suốt một thời gian. Tôi ngỡ rằng, côn trùng ắt phải chịu sự chi phối của một bản tính tiền định, hoàn cảnh của nó không thể đổi thay, hành vi cũng vĩnh viễn đóng khung, có lẽ nó chẳng có năng lực tự thân để tích lũy chút kinh nghiệm nào. Thế nhưng, cái nhìn quá đỗi tuyệt đối ấy đã thay đổi sau những quan sát tiếp theo của tôi.
Sang năm thứ hai, tôi quay lại đúng nơi ấy vào thời điểm thích hợp. Để đào bới hang hốc, thế hệ mới đã kế thừa mảnh đất của thế hệ trước, đồng thời cũng trung thành tiếp nối chiến thuật của tiền nhân. Kết quả thí nghiệm của tôi vẫn y hệt như năm ngoái, bầy Phi Hoàng Nê Phong cứ lặp đi lặp lại những hành động công dã tràng ấy. Nhưng ở một bầy ong khác nằm cách xa ngôi làng Phi Hoàng Nê Phong đầu tiên, sau khi tôi làm thí nghiệm chừng hai ba lần, dường như con Phi Hoàng Nê Phong đã chán ngấy trò vần vò này. Nó sải bước cưỡi lên mình con dế, dùng hàm ngoạm chặt lấy râu mồi rồi dứt khoát không ngoảnh đầu lại mà lôi tuột con dế thẳng vào trong hang. Đúng lúc tôi dần tin chắc vào suy đoán thuở trước thì ngoại lệ lại xuất hiện, kéo tôi chìm vào những phán đoán sai lầm. Xem ra, kẻ ngốc nghếch chẳng phải chính là tôi sao? Con Phi Hoàng Nê Phong xảo quyệt đã đập tan kế hoạch của kẻ làm thí nghiệm. Vậy thì ở những chiếc hang khác, sớm muộn gì hàng xóm của nó cũng sẽ lật tẩy âm mưu của tôi, không thèm vứt mồi ngoài cửa hang nữa mà tha thẳng vào trong.
Dân làng của bộ tộc hôm nay khôn khéo hơn hẳn những cư dân tôi quan sát năm ngoái. Chúng dường như xuất thân từ những tổ tiên khác nhau; con cháu luôn có xu hướng trở về mảnh đất mà tổ tiên đã chọn, nhờ thế tinh thần của tiền nhân mới được đời đời truyền lại. Tùy theo đặc tính của tổ tiên, có bộ tộc khôn ngoan, lại có bộ tộc khờ khạo. Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong cũng giống con người, sống ở nơi chốn khác nhau thì tài trí cũng có phần khác biệt.
Hôm sau, tôi lại tiến hành thí nghiệm tương tự ở một ngôi làng khác. Lần này tôi bắt gặp một đám cư dân ngốc nghếch thực sự, y hệt như những cá thể tôi quan sát lần đầu, một bộ tộc chậm hiểu khiến mọi lần thí nghiệm của tôi đều thu về thắng lợi.
