Chương 52
Chương 52: Câu chuyện ong cát
Đăng ngày 27/09/2026
19
Ngoại hình và màu sắc của Sa Nê Phong rất giống Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong. Thân hình nó mảnh khảnh, dáng vẻ nhẹ nhàng, phần cuối bụng thon hẹp, khoác lớp áo đen tuyền và thắt một dải lụa đỏ quanh bụng. Đó là những nét đặc trưng đại lược về hình thể của nó. Thế nhưng tập tính của nó lại khác xa Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong. Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong bắt các loài côn trùng bộ Cánh thẳng làm mồi, bao gồm cào cào, dế mèn,... còn Sa Nê Phong lại xem ấu trùng sâu bọ là món ngon khoái khẩu. Con mồi khác nhau, dĩ nhiên phương pháp và chiến thuật săn mồi của chúng cũng chẳng hề giống nhau.
Sa Nê Phong có nghĩa là "bạn của cát", nhưng tôi luôn thấy cái tên này chẳng hề hợp với nó. Bạn thực sự của cát phải là loài tò vò bắt ruồi nhặng, chứ không phải Sa Nê Phong mà tôi sắp giới thiệu. Sa Nê Phong chẳng hề thích thứ cát tơi xốp, khô ráo, mịn như bột, thậm chí còn tránh thật xa loại cát ấy, bởi cát mịn chỉ cần khẽ chạm vào là sụt lở ngay. Trước khi đưa thức ăn và trứng vào tổ, giếng ngầm của chúng phải luôn thông suốt không chút cản trở, cho nên nơi đào giếng phải tương đối chắc chắn, tránh việc chưa xong chuyện mà miệng giếng đã bị đất cát vùi lấp. Thứ Sa Nê Phong cần là một mảnh đất pha cát dễ đào bới, nơi cát có thể kết dính lại chỉ nhờ một chút đất sét và vôi.
Những triền dốc đón nắng mọc cỏ lơ thơ ven đường mòn miền sơn cước chính là nơi Sa Nê Phong ưa thích nhất. Tại những nơi này, vào mùa xuân sẽ có Mao Thứ Sa Nê Phong; đến tháng Chín, tháng Mười, Sa Địa Sa Nê Phong, Ngân Sắc Sa Nê Phong và Nhu Ti Sa Nê Phong cũng sẽ xuất hiện. Tổ của cả bốn loài Sa Nê Phong này đều là một cái hang thẳng đứng được khoét sâu xuống, tựa như một cái giếng. Đường kính miệng giếng còn không bằng một cọng lông ngỗng lớn, độ sâu cũng chỉ chừng năm centimet. Dưới đáy giếng là một gian phòng nhỏ thô sơ, trông rất đỗi tầm thường. Công trình đơn sơ này chẳng tốn mấy sức lực của Sa Nê Phong, đào loáng một cái là xong, nên hiệu quả giữ ấm dĩ nhiên chẳng ra sao. Ấu trùng chỉ có thể dựa vào chiếc kén có bốn lớp vỏ bọc tương tự như Hoàng Túc Phi Hoàng Nê Phong để chống chọi với mùa đông buốt giá.
Hãy cùng quan sát xem Sa Nê Phong xây dựng tổ ấm thế nào. Nó đối đãi với công trình này vô cùng cẩn trọng và nghiêm túc. Đốt bàn chân trước dùng làm cào, hàm trên làm công cụ đào bới. Nếu gặp phải hạt cát khó cạy, cánh và thân con côn trùng sẽ run lên bần bật như đang dốc sức hò reo, tiếng sột soạt the thé từ lòng đất truyền thẳng lên trên, thật lâu vẫn chưa dứt. Chẳng mấy chốc, nó ngậm hạt cát vừa đào được, vút một tiếng bay vụt từ dưới lòng đất lên, rồi dùng đôi hàm ngoạm chặt hất phăng hạt cát vô dụng ra xa để tránh làm nghẽn công trường. Còn vài hạt cát có hình dáng và kích thước đặc biệt lại được Sa Nê Phong ưu ái; chúng chẳng những không bị vứt đi xa mà còn được nó dùng chân cẩn thận chuyển tới đặt bên miệng giếng. Đó chính là những vật liệu xây dựng hảo hạng, sẽ phát huy tác dụng to lớn khi cần lấp kín miệng hang sau này. Bạn xem, thân hình Sa Nê Phong vểnh lên thật cao, phần bụng treo lơ lửng nơi cuống thịt dài ngoằng; mỗi khi cần xoay người, nó phải chật vật điều chỉnh thân mình rồi dịch chuyển từng chút một. Để khỏi phải quay người và tiết kiệm thời gian, Sa Nê Phong bao giờ cũng lùi đít ra trước, đầu chui ra khỏi giếng sau cùng.
Sa Địa Sa Nê Phong và Nhu Ti Sa Nê Phong làm việc bao giờ cũng tỉ mỉ từng li từng tí. Bụng chúng phình to như quả lê, treo lủng lẳng ở chót đuôi của một sợi cuống mảnh dẻ. Bởi động tác xoay người rất khó khống chế mà cuống bụng lại quá mảnh mai, chỉ cần dùng sức một chút là cuống sẽ gãy ngay. Cũng chính vì nguyên nhân này, động tác của chúng luôn chậm rãi, bước đi vô cùng cẩn trọng, lúc bay cũng cố bay giật lùi để khỏi phải trở mình liên tục. Nhưng Mao Thứ Sa Nê Phong thì khác, cuống bụng của nó tương đối ngắn, lúc đào hang không gặp mấy trở ngại, có thể hành động dứt khoát và nhanh nhẹn như hầu hết các loài côn trùng đào đất khác.
Căn nhà rất nhanh đã đào xong. Nhưng chớ tưởng Sa Nê Phong được rảnh rỗi, nó vẫn còn nhiệm vụ vô cùng quan trọng phải làm. Tới khi trời tối, hay thậm chí chỉ cần ánh mặt trời không rọi tới cái hang vừa đào, nó sẽ lập tức lên đường, rảo quanh đống sỏi nhỏ đã tích lũy trong quá trình đào bới để chọn lấy một viên ưng ý; nếu không tìm được viên vừa mắt, nó sẽ tìm quanh quất gần đó, và chẳng mấy chốc sẽ thấy. Đó là một hòn sỏi dẹp nhỏ, đường kính hơi nhỉnh hơn miệng giếng một chút. Sa Nê Phong dùng hàm tha phiến đá nhỏ ấy lại, tạm thời đậy lên miệng hang nhằm bảo đảm cửa nhà mình không bị kẻ xấu phá hoại.
Ngày hôm sau, nếu trời quang mây tạnh, Sa Nê Phong sẽ ra ngoài săn mồi. Dưới ánh nắng ấm áp, nó tìm được thức ăn một cách dễ dàng. Chúng chích thuốc mê cho con mồi trước, sau đó dùng miệng ngoạm lấy cổ, dùng chân lôi con mồi về tổ. Sa Nê Phong có một bản lĩnh đặc biệt, ấy là luôn nhận ra cửa nhà mình. Theo mắt tôi nhìn, phiến đá nhỏ đặt ở cửa tổ của nó chẳng có gì khác biệt so với những viên đá khác, thế nhưng nó lại có biệt tài tìm ra tổ ấm giữa muôn vàn sỏi đá. Nó đưa con mồi xuống đáy giếng, đẻ trứng lên, gạt chỗ bùn đất quanh đó lấp kín lòng giếng, rồi vĩnh viễn phong kín căn hầm lại.
Sa Địa Sa Nê Phong và Ngân Sắc Sa Nê Phong đôi khi sẽ tạm thời bịt kín chỗ ở, ấy là vì mặt trời đã xuống núi, chúng đành phải để nhiệm vụ tích trữ lương thực sang ngày hôm sau tiếp tục. Nó không ngủ qua đêm trong cái hang nhỏ do chính mình đào, mà dùng phiến đá nhỏ tạm đậy hang lại rồi bay đi nơi khác ngủ. Sa Nê Phong cũng giống như Languedoc Phi Hoàng Nê Phong, thích phiêu bạt khắp chốn và đẻ trứng ở nhiều nơi. Ngẫu nhiên bay đến đâu, thấy ưng ý thổ nhưỡng nơi đó, nó liền đào hang tại đấy. Giờ đây, chẳng ai biết nó đã bay đi phương nào, chỉ biết sáng sớm hôm sau, nó lại bay về chiếc hang dang dở để tiếp tục công việc chưa hoàn thành. Để tiếp tục quan sát, tôi buộc phải đánh dấu bên cạnh tổ của nó, cắm vài cành cây làm cọc tiêu, có thế mới tìm lại được căn nhà nhỏ của Sa Nê Phong.
Trí nhớ của Sa Nê Phong quả thực khiến người ta phải trầm trồ thán phục. Nó không giống như loài ong mật có tổ cố định, qua lại lâu ngày nên nắm rất rõ lộ trình; Sa Nê Phong là kẻ lãng du tự do tự tại, chưa từng an cư ở một nơi nhất định. Trong hoàn cảnh ấy, việc nó vẫn có thể dễ dàng tìm lại căn nhà mình từng đào quả là điều chẳng hề đơn giản.
Đi tìm phiến đá đậy cửa không phải là chuyện dễ dàng. Đôi khi nó do dự rất lâu, tìm kiếm năm lần bảy lượt. Những lúc ấy, nó bèn quẳng con mồi lên chỗ cao, đặt trên một bụi xạ hương hoặc một túm cỏ dại, để khi hớt hải tìm tòi trở về có thể dễ dàng thấy ngay con mồi. Tôi lấy bút chì vẽ lại đường đi của Sa Nê Phong. Lối đi ấy có thể tạo thành một mê cung phức tạp, những đường nét chằng chịt xoắn xuýt vào nhau, hỗn loạn vô cùng. Phải chăng lộ trình rối rắm kia ám chỉ nỗi hoang mang bất an của Sa Nê Phong? Câu trả lời e rằng chỉ mình nó biết.
Sa Nê Phong dường như đã lạc đường. Nó đứng ở một chỗ rồi đi qua đi lại, mãi không quay về được chỗ con mồi. Dường như bản thân nó cũng hiểu rằng, dẫu đã đặt con mồi ở vị trí rất dễ thấy nhưng việc kéo mồi về hang vẫn có thể gặp trắc trở. Thế nên nếu tìm tổ quá lâu, Sa Nê Phong sẽ bỏ dở giữa chừng mà quay lại bên con mồi để bảo đảm tài sản vẫn còn nguyên vẹn, sau đó mới tiếp tục lần mò đường đi. Trong tình huống thông thường, Sa Nê Phong vẫn có thể quay thẳng về cái giếng nó đã đào ngày hôm qua. Vị trí ấy đã khắc sâu trong trí não, đóng vai trò quan trọng giúp nó tìm về nhà. Nếu là tôi thì chẳng dám cậy vào trí nhớ để tìm ra tổ của nó đâu; tôi ắt phải dùng bút vẽ lộ trình cùng tọa độ, lại phải mượn thêm kiến thức địa lý tích lũy bao năm mới làm nổi.
Trong bốn loài Sa Nê Phong, tôi chỉ mới thấy Sa Địa Sa Nê Phong và Ngân Sắc Sa Nê Phong dùng phiến đá đậy kín miệng hang, còn hai loài kia dường như chưa từng dùng cách này để bảo vệ chốn ở. Với Mao Thứ Sa Nê Phong, việc che đậy dường như hoàn toàn thừa thãi, bởi nó luôn đào hang ngay gần nơi bắt được con mồi để cất giữ chiến lợi phẩm bất cứ lúc nào. Còn Nhu Ti Sa Nê Phong không che miệng hang có lẽ lại vì nguyên nhân khác. Theo tôi phỏng đoán, ấy là do con mồi của Nhu Ti Sa Nê Phong quá nhiều. Những loài Sa Nê Phong khác thường chỉ đặt một con mồi trong hang, còn nó lại bỏ tới năm con, đồng nghĩa với việc trong một thời gian ngắn nó phải chui xuống giếng ít nhất năm lần; như thế thì việc bịt kín miệng hang rõ ràng là không cần thiết.
Ấu trùng loài bướm đêm là khẩu phần ăn của ấu trùng các loài Sa Nê Phong này. Nhu Ti Sa Nê Phong chọn loại sâu đo mảnh mai thuôn dài, lúc bò co duỗi như chiếc compa, thường được người ta gọi là sâu đo. Ấu trùng của Nhu Ti Sa Nê Phong có thể nói là sung sướng nhất trong số ấu trùng của các loài Sa Nê Phong. Một mình nó được hưởng dụng tới năm con mồi, dẫu kích thước của những con mồi này không lớn lắm. Nếu không có sâu đo, tò vò mẹ cũng sẽ bắt ấu trùng tí hon của các loài khác. Những con sâu đo bị ngòi độc chích thuốc mê co quắp lại thành từng cuộn, năm con sâu cứ thế được xếp chồng từng con một trong phòng nuôi ấu trùng. Khi mọi thức ăn đã chuẩn bị tươm tất, trứng liền được đẻ trên mình con sâu cuối cùng.
Thức ăn của ấu trùng ba loài Sa Nê Phong còn lại thì đơn giản hơn nhiều, mỗi ấu trùng chỉ được chia đúng một con sâu. Nhưng con sâu ấy lại có kích thước rất lớn, bù trừ hoàn toàn cho sự thiếu hụt về số lượng. Những con sâu này tròn trịa mập mạp, tươi non mọng nước, thừa sức thỏa mãn cơn thèm ăn của ấu trùng. Nên nhớ rằng, con mồi này lớn gấp mười lăm lần kẻ đi săn! Những loài Sa Nê Phong này phải ngoạm thứ nặng gấp mười lăm lần thân mình, vượt qua muôn vàn gian nan trắc trở mới lôi nổi con mồi khổng lồ về hang cho con non thưởng thức, đây là chuyện đáng kinh ngạc xiết bao! Nếu đem bất kỳ loài côn trùng bộ Cánh màng nào khác cùng con mồi của nó đặt lên bàn cân, sự chênh lệch giữa kẻ cướp bóc và chiến lợi phẩm cũng chẳng bao giờ mất cân đối đến dường này.
Thức ăn đào từ dưới đất lên hoặc trông thấy dưới móng vuốt của Sa Nê Phong thiên hình vạn trạng, điều này chứng tỏ ba loài Sa Nê Phong kia chẳng hề kén cá chọn canh, thấy con nào là tóm con nấy, miễn sao kích cỡ ấu trùng vừa vặn và thuộc họ Bướm đêm là được. Trong đó, con mồi thường thấy nhất vẫn là loài ấu trùng khoác chiếc áo đen sẫm, chuyên gặm nhấm rễ cây dưới lớp đất nông.
Ấu trùng sâu bướm đêm khác hẳn những con mồi chúng ta từng thấy từ trước đến nay. Cơ thể nó do một chuỗi các đốt hoặc vòng tương tự nhau ghép thành, ba đốt đầu tiên có chân thật, sau này sẽ phát triển thành chân sâu bướm trưởng thành; các đốt còn lại mang những chân dạng màng hay còn gọi là chân giả, chỉ ấu trùng mới có còn sâu bướm trưởng thành thì không. Mỗi đốt đều có một hạch thần kinh, tức trung khu tạo cảm giác và điều khiển vận động; không tính hạch nằm trong sọ não tương tự não bộ, hệ thần kinh của nó có tới mười hai trung khu tách biệt nhau. Thần kinh của vòi voi và Cát Đinh tương đối tập trung, chỉ cần chích một mũi là tê liệt toàn thân; Phi Hoàng Nê Phong chích từng hạch ngực của dế mèn là có thể khiến nó bất động. Nhưng ấu trùng bướm đêm lại khác, nó không chỉ có một điểm tập trung hay ba trung khu thần kinh, mà có tới mười hai hạch thần kinh bị các đốt thân ngăn cách nhau. Những hạch thần kinh này nằm trên đường trục giữa mặt bụng, xếp thành chuỗi như tràng hạt. Các hạch này độc lập với nhau khá nhiều, mỗi hạch chỉ chi phối hoạt động của một đốt thân; nếu một đốt mất đi khả năng cử động và cảm giác thì các đốt khác vẫn nguyên vẹn không tổn hại gì, vẫn có thể cử động tự do suốt thời gian dài.
Thủ đoạn săn mồi của côn trùng cánh màng có giá trị nghiên cứu cực cao, nhưng quan sát được chúng lại vô cùng khó khăn. Sa Nê Phong sống rải rác từng con một trên một vùng đất rộng lớn, chứ không tụ tập thành bầy quy mô như Languedoc Phi Hoàng Nê Phong. Người ta phải kiên nhẫn chờ đợi cơ hội thích hợp suốt một thời gian dài mới có được tư liệu quan sát quý giá. Trớ trêu thay, những cơ hội như thế lại hiếm hoi vô cùng, đòi hỏi phải mòn mỏi chờ đợi từ năm này qua năm khác. Tôi đã dựa vào chút bền bỉ ấy mà đợi suốt bao năm trời, cuối cùng cũng có một ngày cơ hội xuất hiện ngay trước mắt.
Tôi từng hai lần tận mắt chứng kiến cảnh tượng Sa Nê Phong hạ sát ấu trùng bướm đêm. Nó cắm ngòi độc vào đốt thân thứ năm hoặc thứ sáu của con mồi, động tác nhanh như chớp, và chỉ cần một mũi chích là xong chuyện. Tôi nghĩ ra một cách để kiểm tra xem ngòi độc rốt cuộc đã đâm vào đốt thân nào của ấu trùng: dùng một đầu kim mảnh chọc thử từng đốt thân trên mình nó, dựa vào dấu hiệu đau đớn mà côn trùng biểu hiện ra để đo mức độ mẫn cảm. Ấu trùng nằm yên bất động, tôi đâm mũi kim vào đốt thân thứ năm và thứ sáu, nó không hề tỏ ra đau đớn chút nào; tôi ấn mạnh tay đâm xuyên qua cả thân mình nó, con sâu vẫn nằm im thin thít. Nhưng khi tôi dời kim sang những vị trí xa đốt thứ năm hay thứ sáu, ấu trùng liền quằn quại đau đớn, giãy giụa không ngừng. Hơn nữa, mũi kim càng xa đốt thứ năm, thứ sáu bao nhiêu thì nó giãy giụa dữ dội bấy nhiêu. Đặc biệt là những chỗ gần đuôi bụng, chỉ cần khẽ chạm vào một cái là ấu trùng đã vặn mình lung tung. Qua đó có thể chứng minh, Sa Nê Phong chỉ chích đúng một mũi, và vị trí trúng độc là đốt thân thứ năm hoặc thứ sáu.
Trứng của Sa Nê Phong sẽ được đẻ ngay trên đốt thân đã mất tri giác đó, và vị trí ấy vĩnh viễn không bao giờ thay đổi. Chỉ ở vị trí này, ấu trùng Sa Nê Phong mới có thể gặm nhấm con mồi mà không sợ những cú quằn quại của đối phương làm mình bị thương; cũng chỉ ở nơi này, vết chích của ngòi độc mới không khiến con mồi phát sinh phản ứng, và những vết cắn xé của ấu trùng mới không kích động được nó.
Tôi thường tự hỏi, Sa Địa Sa Nê Phong, và nhất là Mao Thứ Sa Nê Phong, con mồi chúng bắt có kích thước khổng lồ, thậm chí gấp mười lăm lần bản thân, liệu chúng có đối xử với con mồi như loài Sa Nê Phong thông thường, cũng chỉ chích vỏn vẹn một mũi hay không? Nếu chỉ một mũi chích mà không làm con mồi tê liệt hoàn toàn, khi nó dùng cái đuôi đầy sức mạnh quất mạnh vào vách tổ, ấu trùng sẽ nguy hiểm biết chừng nào. Tôi không dám tưởng tượng nổi, sinh linh bé bỏng vừa mới nở kia sẽ ra sao khi phải đối mặt với một con cự long uốn éo, co duỗi tùy ý trong căn phòng đất chật hẹp.
Tôi từng có dịp chứng kiến Sa Nê Phong dùng lưỡi dao mổ của mình để phẫu thuật cho một con mồi vạm vỡ. Lần nọ, tôi cùng người bạn đi xuống từ Cao nguyên An Cách Nhĩ để đặt bẫy Bọ Hung Thánh nhằm thử thách trí khôn của nó. Đúng lúc ấy, một con Mao Thứ Sa Nê Phong bỗng nhiên xuất hiện trước mặt chúng tôi, bận rộn làm việc dưới một bụi cỏ xạ hương. Thấy hai người chúng tôi bước tới, Sa Nê Phong chẳng hề tỏ ra sợ hãi, thậm chí còn bạo dạn đậu lên tay áo tôi nghỉ ngơi một lát. Nhận thấy chúng tôi không hề có ác ý, nó liền bay trở lại bên dưới bụi xạ hương. Đoán rằng con ong đang bận làm một việc gì đó hệ trọng, chúng tôi liền nằm sấp xuống thật gần, lặng lẽ dõi theo nó.
Sa Nê Phong cào bới lớp đất dưới gốc cây xạ hương, nhổ những rễ con mảnh dẻ của cái cây, chúi đầu vào dưới những tảng đất nhỏ vừa bị lật lên. Nó chạy qua chạy lại trong bụi xạ hương, lục soát mọi kẽ nứt có thể giúp nó chui xuống dưới bụi cây. Nó nào phải đang đào hang làm tổ, mà là đang săn mồi đấy chứ. Bạn xem, một con sâu xám to béo chẳng hề hay biết chuyện gì đang xảy ra trên đầu, cứ thế thấp thỏm bò ra ngoài. Thế là nó toi đời rồi! Sa Nê Phong lập tức lao tới, tóm chặt lấy gáy nó, rồi cưỡi hẳn lên lưng con quái vật khổng lồ này, cong bụng lại, chích khắp một lượt từ đốt thân đầu tiên đến tận đốt cuối cùng ở mặt bụng nạn nhân. Cảnh tượng ấy hệt như một bác sĩ ngoại khoa nắm rõ tường tận giải phẫu học, đang ung dung cầm dao mổ rạch từng đường ngay ngắn lên thân thể người bệnh.
Động tác của Sa Nê Phong chuẩn xác đến mức ngay cả các nhà khoa học cũng phải thèm thuồng; nó thấu hiểu những điều mà con người có lẽ vĩnh viễn không bao giờ biết được; nó nắm rõ toàn bộ cơ quan thần kinh của con mồi; hành vi của nó hoàn toàn do đấng tạo hóa mặc khải. Tôi nghĩ, mọi việc nó làm đều diễn ra trong vô thức, dưới sự dẫn dắt của thiên tính tự nhiên. Bị ánh sáng chân lý này làm cho chấn động sâu sắc, nơi khóe mắt tôi bỗng tuôn rơi những giọt nước mắt nghẹn ngào khôn tả.
