Chương 6
Chương 6: Trường học của tôi
Đăng ngày 27/09/2026
19
Bấy giờ tôi đã tròn bảy tuổi, đến tuổi phải cắp sách tới trường. Tôi trở về làng, về lại nhà cha mình, bắt đầu những ngày làm quen với từng con chữ. Thầy giáo lại chính là cha đỡ đầu của tôi, thật là một chuyện đáng mừng! Có điều, để gọi tên cho đúng cái nơi vị thầy giáo này truyền thụ kiến thức, cái căn phòng nơi tôi vỡ lòng bảng chữ cái, tôi chịu chẳng tìm ra từ nào thật thỏa đáng. Nó giống như một căn phòng đa năng, việc gì cũng dùng đến được. Nó vừa là trường học, vừa là bếp, nhà ăn, phòng ngủ, mà đôi khi còn là chuồng gà, chuồng lợn. Nhắc đến trường học thời ấy, người ta chẳng hề mường tượng ra những tòa nhà bề thế, những bãi cỏ xanh mướt hay thư viện ngập tràn hương sách; chỉ cần một chốn nương thân tồi tàn, đơn sơ là đã quá đủ rồi.
Ngôi nhà làm trường học có hai tầng trên dưới, dưới tầng trệt có một chiếc thang rộng dẫn lên gác xép. Căn gác ấy chắc là kho thóc, nói đúng hơn là kho chứa đồ ăn cho cả người lẫn vật. Bởi tôi thường thấy thầy chốc chốc lại bê từ trên ấy xuống một sọt khoai tây cho lợn con ăn, lúc sau lại ôm xuống một bó cỏ khô cho lừa mẹ. Căn phòng dưới nhà chính là trường học của chúng tôi đấy! Dưới gầm thang dẫn lên kho thóc có một hốc tường lót ván gỗ, bên trong kê một chiếc giường lớn. Phía nam ngôi nhà trổ ô cửa sổ duy nhất của căn phòng. Dẫu cửa vừa hẹp vừa thấp, nhưng mỗi khi nắng rọi vào, đó lại là nơi dễ chịu nhất trong cả gian nhà. Làng nằm trải ra trên sườn thung lũng, đứng bên cửa sổ có thể phóng tầm mắt bao quát hơn nửa làng. Chiếc bàn nhỏ của thầy giáo được kê ngay bên cửa sổ ấy. Bức tường đối diện cửa sổ có một hốc tường, chiếc thùng đồng sáng lóa dưới ánh mặt trời luôn đầy ắp nước, lúc khát chỉ việc tiện tay cầm chiếc cốc bên cạnh múc một hơi cho thỏa thuê.
Ánh nắng lọt qua khung cửa hẹp hắt lên những bức tranh sặc sỡ treo kín tường, đó là bộ sưu tập của thầy tôi. Tuy người thầy có phong cách độc đáo của tôi chỉ treo chúng lên làm cảnh theo sở thích riêng chứ chẳng phải để rèn giũa tư tưởng hay trí tuệ cho đám học trò, song những bức tranh đáng giá một xu mỗi bức ấy vẫn cuốn hút chúng tôi bằng đủ sắc màu đỏ, lam, vàng, lục phong phú.
Bên trái cửa sổ treo bức tranh nàng Geneviève xứ Brabant, bên cạnh nàng có một con hươu cái bầu bạn; gã Golo mắt lộ hung quang lăm lăm dao găm nấp trong bụi gai rậm rạp. Phía trên bức tranh có dòng chữ: Cái chết của ông Crépin, người đàn ông bất hạnh bị tên bợm rượu độc ác đâm chết ngay trước ngưỡng cửa quán rượu nhỏ của mình.
Bên phải cửa sổ là bức hình chàng Judas lang bạt muôn đời, đầu đội mũ ba sừng, mình đeo chiếc tạp dề lớn bằng da trắng, chân mang giày đóng đinh, tay chống một cây gậy chắc nịch. Chòm râu của ông già này đổ dài như thác nước phủ kín tạp dề, rủ xuống tận đầu gối. Chẳng trách khúc bi ca trong tranh lại viết: "Người đời chưa từng thấy ai râu ria rậm rạp đến nhường này."
Trong số tranh trên tường còn có cả Chúa Trời đứng giữa mặt trời và mặt trăng, vạt áo Ngài phần phật bay trong cuồng phong. Người mẹ khoác áo choàng xanh với nét mặt đau đớn là Đức Mẹ Sầu Bi, dưới lớp áo hé mở để lộ trái tim bị bảy lưỡi gươm sắc xuyên qua. Cứ thế, những bức tranh đủ mọi đề tài treo quanh tường đã khoác cho căn phòng này chút phong vị của một gian triển lãm.
Trong căn phòng còn có một công trình đồ sộ: chiếc lò sưởi tựa vào bức tường trong cùng. Bảo nó đồ sộ là bởi gờ vòm của nó rộng bằng cả căn phòng, còn cái hốc tường khổng lồ thì có biết bao công dụng. Chính giữa là lòng lò sưởi; hai bên ngang tầm lan can trổ hai hốc tường. Một bên xây bằng gạch đá, một bên ghép bằng gỗ mịn; mỗi hốc trải một tấm đệm nhồi trấu, chủ nhân của hai chiếc giường này là hai học sinh nội trú được hưởng đặc quyền; hai rãnh trượt ở hốc tường có ván gỗ thay cho rèm chắn, hễ kéo ván lại là biến thành hai phòng ngủ kín đáo dưới bệ lò sưởi. Vào những đêm gió tây bắc gầm rít giận dữ ngoài cửa lạch, ván chắn đóng lại khiến gian phòng ngủ giấu kín này trở nên vô cùng ấm áp, dễ chịu.
Đồ đạc quanh lò sưởi chiếm phần lớn không gian căn phòng: mấy chiếc ghế đẩu ba chân, chiếc xẻng cầm bằng hai tay, hộp muối giữ đồ khô ráo, cùng chiếc ống bễ thô kệch khoét từ thân cây linh sam. Trên chiếc bệ ghép bằng hai phiến đá là tâm điểm của chúng tôi suốt mùa đông: ngọn lửa bập bùng ấm áp. Nhưng ngọn lửa rực hồng ấy chẳng phải để sưởi cho chúng tôi, dù sáng nào mỗi đứa cũng phải nộp củi để được hưởng quyền thưởng thức món ngon nấu từ nó; công dụng thực sự của ngọn lửa là nấu cám cho bầy lợn con nhà thầy, ba chiếc nồi nhỏ xếp hàng trên bếp chứa đầy cám và khoai tây, món khoái khẩu của chúng. Hai đứa học sinh nội trú có đặc quyền ngồi trên ghế đẩu, còn những đứa khác ngồi xổm thành nửa vòng tròn quanh chiếc nồi lớn đang sôi sùng sục ùng ục. Mấy đứa bạo gan nhân lúc thầy không để ý liền dùng đầu dao xiên một củ khoai thơm phức, lén đặt lên mẩu bánh mì của mình.
Ăn uống là niềm vui lớn nhất của trẻ con, nhất là với lũ nhóc tì chúng tôi, việc vừa học vừa nhét mồm đầy ắp là chuyện thường như cơm bữa. Học ở trường chẳng được bao lăm, nhưng ăn thì lại chẳng ít chút nào. Vừa cắn quả óc chó, gặm bánh mì, vừa viết chữ hay con số, điều đó đem lại cho chúng tôi đôi chút an ủi trong quá trình học hành gian nan.
Ngoài chuyện đó ra, chúng tôi chẳng thiếu trò tiêu khiển. Phòng học có một cánh cửa thông ra sân nuôi gia cầm. Ở đó, gà mẹ dắt đàn con thong thả vừa cục tác vừa bới tìm những con giun béo mầm, lợn con ủn ỉn vui sướng, chẳng biết có phải lại kiếm được món gì ngon lành hay không. Cánh cửa dẫn tới niềm vui ấy thường xuyên mở toang, lũ quỷ sứ nghịch ngợm cứ mở ra là cố tình không khép lại, để chúng tôi có thể chuồn ra ngoài chơi.
Cửa vừa mở, gà mẹ liền dẫn một bầy gà con lông xù tơ tới thăm. Đứa nào đứa nấy vội vàng bóp vụn bánh mì chiêu đãi những vị khách đáng yêu này, chúng tôi cố tỏ ra thật thân thiện, đua nhau xem ai dụ được nhiều gà con hơn, rồi lại cẩn thận đưa ngón tay vuốt ve lớp lông tơ mềm mại trên lưng chúng. Lợn con cũng hùa nhau xông vào phòng, lần theo mùi khoai tây luộc, từng con từng con nối đuôi nhau bước vào. Chúng chạy lon ton từng bước ngắn, cái mông ngoáy tít, cái đuôi mảnh khảnh xoăn tít lại. Chúng cọ vào chân chúng tôi như làm nũng, chiếc mõm non nớt sục sạo trong lòng bàn tay chúng tôi để nhặt vụn bánh, làm lòng bàn tay nhột nhạt cả lên. Chúng còn dạo quanh phòng học như thể tìm kiếm thức ăn ngon, lúc sục chỗ này, khi chạy chỗ kia. Thầy giáo chỉ hiền từ lấy tay vỗ vỗ xua chúng trở lại sân nuôi.
Trường học của tôi là thế đấy, ở đây chúng tôi học được những gì nào? Trước hết hãy nói về đám trẻ lớn. Chúng có quyền ngồi vào chiếc bàn duy nhất trong phòng có ghế dài xung quanh, bò toài ra bàn mà viết chữ; bàn kê sát ngay ô cửa sổ hẹp, chút ánh sáng ít ỏi hiếm hoi trong phòng gần như bị chúng chiếm trọn.
Thế nhưng ngoài bộ bàn ghế đơn sơ cùng chút ánh sáng còm cõi, trường học chẳng cung cấp thêm bất cứ thứ gì, đến một giọt mực cũng không, mỗi học sinh đến đây đều phải tự mang đủ một bộ đồ nghề. Chiếc hộp đựng bình mực thời ấy là một hộp giấy hai tầng. Ngăn trên để bút lông vũ, lông nhổ từ cánh gà tây hoặc cánh ngỗng rồi lấy dao gọt tỉa lại; ngăn dưới đựng một chiếc lọ con con chứa chút mực pha từ giấm trộn với muội than.
Đám học trò nhỏ như chúng tôi, đứa nào trong tay cũng có một cuốn sách tập đọc vỡ lòng, cuốn sách giáo khoa khai tâm quan trọng này có giá hai xu một cuốn. Bìa sách màu xám in hình một con chim bồ câu. Trang đầu tiên là một cây thánh giá; trang thứ hai là bảng chữ cái; lật qua trang đó là chuỗi vần ba, be, bi, bo, bu đáng sợ, nỗi ám ảnh của hầu hết lũ trẻ. Song chỉ cần vượt qua được cái trang hành xác ấy, chúng tôi đã được coi là biết đọc, có thể lên học cùng đám trẻ lớn rồi.
Có điều, việc nhét cho chúng tôi cuốn sách nhỏ ấy chẳng qua chỉ để lũ nhóc nghịch ngợm trông ra dáng học trò hơn một chút mà thôi. Người thầy chất phác dành quá nhiều thời gian cho đám trẻ lớn, thời gian chia cho chúng tôi chỉ có một mẩu cỏn con; mà cuốn sách nhỏ này nếu muốn dùng được thực sự thì đòi hỏi thầy phải để mắt tới từng đứa, chỉ cho chúng tôi biết cách nhập môn. Thế là ý nghĩa của cuốn sách chỉ là bắt chúng tôi ngồi trên ghế dài mà ngẫm nghĩ về nó, nhưng chúng tôi nào ngẫm ra được trò trống gì, bởi bụng dạ đứa nào cũng chỉ hướng về mấy củ khoai luộc. Bạn bè tranh nhau một viên bi, lũ gà con chốc chốc lại ghé thăm, bầy lợn ủn ỉn xông vào, tất thảy đều quấy nhiễu sự ngẫm nghĩ của chúng tôi. Những mối bận tâm ấy làm cho thời gian ngóng trông tan học trôi nhanh hơn, mau mau lao vụt ra khỏi trường mới là điều chúng tôi quan tâm nhất!
Ở trường tôi, mọi người đọc những gì? Cùng lắm là đọc vài mẩu chuyện thánh tích bằng tiếng Pháp. Tiếng Latinh được học thường xuyên hơn, cốt để dạy chúng tôi hát trong giờ kinh tối. Những đứa học giỏi nhất thì trầy trật đánh vần các bản chép tay cùng các khế ước mua bán, trong đó chứa đầy những từ ngữ tối nghĩa khó hiểu như chữ thiên thư do viên công chứng viết ra.
Còn ngữ pháp ư? Đến thầy giáo còn chẳng buồn để tâm, lũ chúng tôi lại càng không đoái hoài. Nào là thức chỉ thực, nào là thức giả định, những cấu trúc rắc rối đáng ghét ấy khiến chúng tôi phải kinh ngạc trước lòng kiên nhẫn và đầu óc của kẻ đã phát minh ra chúng. Còn việc dùng đúng văn viết và văn nói thì cứ qua thực tế mà vỡ ra. Song chuyện ấy chẳng làm chúng tôi bận lòng, lúc trao đổi kinh nghiệm dụ dỗ gà con, chúng tôi đâu cần phải đắn đo lựa lời từng câu từng chữ, vả lại, quá câu nệ những thứ đó phỏng có ích gì?
Địa lý ư? Lịch sử ư? Chẳng ai nhắc đến bao giờ. Trái Đất hình tròn hay hình vuông? Vì sao dân Paris lại phá ngục Bastille? Mấy chuyện đó can hệ gì tới chúng tôi. Những nỗi nhọc nhằn trong việc đồng áng chẳng vì biết hình dáng Trái Đất mà bớt đi; mỗi sáng mở mắt ra chúng tôi vẫn phải nai lưng ra làm lụng để kiếm miếng ăn, điều đó cũng chẳng hề thay đổi chỉ vì ngục Bastille đã bị san phẳng.
Còn toán học thì sao? À, môn này chúng tôi cũng được học đôi chút, nhưng nói cho đúng hơn thì chỉ nên gọi là tính toán. Bài tập chúng tôi thường làm là viết ra vài con số không quá dài rồi cộng vào hoặc trừ đi. Chiều thứ Bảy là lúc ai nấy đều nháo nhào lên, vì phải đọc thuộc bảng cửu chương mới được kết thúc tuần học.
Bảng cửu chương ngày ấy dùng theo hệ đo lường thập nhị phân cũ. Đứa học giỏi nhất lớp sẽ đứng dậy, cất giọng sang sảng đầy tự tin đọc hàng số mười hai đầu tiên. Đợi nó đọc xong, cả lớp lại đồng thanh gào to lặp lại một lượt. Rồi đứa xướng âm lại bắt đầu hàng mười hai thứ hai, cả lớp lại cùng nhau gào tiếp. Đứa nào đứa nấy cố ngoác miệng hét thật to, chỉ sợ tiếng mình bị người khác át mất. Cứ thế đọc mãi cho tới mười hai nhân mười hai mới chịu thôi. Với chúng tôi mà nói, bảng cửu chương là môn học khá nhất, cái phương pháp ồn ào ấy đã khắc sâu những con số vào trong óc chúng tôi. Thế nhưng chúng tôi cũng chẳng nhờ thế mà tính toán giỏi giang hơn, ngay cả đứa học giỏi nhất cũng dễ dàng bị mấy phép nhớ làm cho lú lẫn. Còn người có thể nắm được phép chia thì quả thực hiếm như lá mùa thu.
Nhưng thầy giáo của chúng tôi lại là một người đầy tài năng, rào cản duy nhất ngăn thầy quản lý tốt trường lớp và đi sâu vào giảng dạy chính là thời gian. Trong cuộc sống, thầy sắm quá nhiều vai, thành thử thời gian dành cho chúng tôi eo hẹp vô cùng.
Thầy giáo chúng tôi là giọng ca vàng của ca đoàn, là người lĩnh xướng. Trong giờ kinh chiều, cả nhà thờ vang vọng khúc ca tụng Đức Mẹ trong trẻo, tuyệt mỹ của thầy.
Thầy giáo chúng tôi là thợ cắt tóc. Bằng đôi bàn tay khéo léo, thầy cắt tóc tỉa tai cho những nhân vật có máu mặt trong làng. Đầu tóc của trưởng thôn, cha xứ hay công chứng viên đều là tác phẩm của thầy.
Thầy giáo chúng tôi là người gác chuông. Mỗi đám cưới hay lễ rửa tội trong làng đều làm chúng tôi phấn khích khôn cùng, chẳng phải vì chú rể là ông anh bẽn lẽn của đứa nào trong nhóm, cũng chẳng phải vì đứa trẻ chịu phép rửa tội là cô cháu gái đáng yêu của ai, mà bởi thầy phải đi gióng chuông cho những dịp trọng thể ấy. Ngôi trường tạm thời nghỉ học chính là thiên đường sung sướng của lũ trẻ, bầy gà con đang chờ những mẩu vụn bánh mì của chúng tôi! Những ngày mưa giông cũng là ngày nghỉ, thầy phải đánh chuông để nhắc nhở dân làng phòng ngừa sét đánh và mưa đá. Người gác chuông cần mẫn ấy mê mẩn những kim chỉ và bánh răng của chiếc chuông lớn, thầy lên dây cót, căn chỉnh cho nó, thường vì thế mà đắm mình giữa cả đống càng sắt quay tít mù.
Thầy giáo chúng tôi còn là một viên quản gia. Thầy quản lý tài sản cho một điền chủ ngoài làng, công việc này ngốn của thầy không ít thời gian. Thầy phải trông nom tòa lâu đài cổ có bốn ngọn tháp, phải hái táo, gặt yến mạch, thu gom cỏ khô, đập hái hạt óc chó... Những hôm trời quang mây tạnh, lũ trẻ lớn lại đi làm chân sai vặt cho thầy. Lúc này, trường học chỉ còn trơ trọi mấy đứa bé con chưa đủ tư cách đi phụ giúp, trong đó có cả tôi. Lớp học thường được dời ra đống cỏ khô, đống rơm rạ; bài học thường là dọn dẹp chuồng bồ câu, hay giẫm nát lũ ốc sên bò ra khỏi hang ổ vào ngày mưa, pháo đài của chúng nằm ngay bên bìa rừng hoàng dương.
Đó chính là ngôi trường của tôi, đó chính là thầy giáo của tôi, và đó cũng là nơi nhen nhóm niềm đam mê suốt đời tôi. Dù rằng giữa những phép nhân mười hai khiến người ta váng đầu và những âm ba, be, bi đáng sợ, niềm say mê của tôi chẳng những không được coi trọng mà còn bị đè nén trăm bề, nhưng nó vẫn kiên cường lớn lên trong gian khó. Cuối cùng, nó đã tìm thấy nguồn năng lượng để chống đỡ giữa hoàn cảnh hiu hắt ấy, chính là trang bìa cuốn sách tập đọc vỡ lòng của tôi: hình vẽ một chú chim bồ câu đồng quê. Tôi thường ngoan ngoãn ngồi trên ghế dài, dán chặt mắt vào nó mà suy tư, tưởng tượng. Đôi mắt tròn xoe dường như đang mỉm cười với tôi, như muốn nói: Bạn ơi, hãy cùng bay nào! Đôi cánh ngỡ như mềm mại ấy lại dẻo dai và đầy sức mạnh, nó lướt đi giữa bầu trời rực rỡ, dùng lông chóp cánh đùa giỡn với mây trắng; nó đậu nghỉ và cất tiếng hót giữa tán lá xanh tươi, có lẽ sẽ đánh thức những chú bọ đang ngủ trưa; nó bay qua một mặt hồ phẳng lặng, lũ cá tung tăng nhảy khỏi mặt nước chào đón, khuấy động từng đốm bọt nước li ti. Người bạn bồ câu ấy đã ủi an tôi, giúp tôi tạm quên đi nỗi ngậm ngùi bên dưới trang bìa sách, khiến tôi ngoan ngoãn nghe lời, chờ đợi giây phút thầy tuyên bố tan trường.
Dẫu vậy, tôi đâu chỉ biết ngắm nhìn mỗi chú bồ câu. Ở lớp học ngoài trời, trí tò mò của tôi luôn được thỏa mãn đôi phần. Đời sống thôn dã ngập tràn niềm vui, sự hiểu biết và niềm say mê của tôi dành cho côn trùng cùng cây cỏ cứ thế lặng lẽ lớn dần theo năm tháng.
Lúc giúp thầy đập hái hạt óc chó, tôi kết bạn với lũ dế trên bãi cỏ. Đôi cánh của loài bọ này xòe ra như chiếc quạt, chiếc thì mang màu xanh lam, chiếc lại mang màu đỏ thắm, nhưng chiếc nào cũng sặc sỡ và đẹp đẽ như nhau. Tôi tìm kiếm những chú bọ hung một móng xinh đẹp trên cây tống quán sủi, hái những đóa thủy tiên trắng thanh nhã trong vườn, lại còn học được cách dùng đầu lưỡi hút lấy giọt mật ngọt ngào nơi đáy tràng hoa.
Khi giúp thầy cắt cỏ trên đồng, tôi lại tranh thủ tơ tưởng đến sự nghiệp cỏn con của mình. Tôi bắt ếch, lột da rồi kẹp vào đầu một thanh tre chẻ đôi, cắm bên bờ suối làm mồi nhử tôm.
Lúc phụ thầy đập nát lũ ốc sên bên rìa rừng hoàng dương, tôi chẳng phải một kẻ tiêu diệt dứt khoát cho cam. Chúng đẹp biết bao! Con nào cũng có những dải vân đen xoắn ốc, nhưng thân mình lại mang sắc vàng, sắc trắng, màu nâu, thậm chí cả màu hồng hoa hồng, như thể ai đó lỡ tay đánh đổ bảng pha màu, vừa khéo phết lên mình chúng những sắc thái diệu kỳ ấy. Tôi trước giờ không nỡ dùng gót giày nghiền nát những mảng màu rực rỡ kia; tôi bèn nhét đầy túi những con ốc ưng ý, hễ rảnh rỗi lại lôi ra ngắm nghía.
Cứ thế, trong chuỗi ngày học tập đầy thích thú giữa thôn quê, tôi ngày càng hiểu hơn và thấy hứng thú hơn với những sinh linh trong cánh rừng, nơi trảng cỏ; thế nhưng việc học chữ của tôi lại chẳng tiến bộ chút nào. Tôi quá chú tâm vào chú bồ câu nơi bìa sách mà xa lạ hẳn với những con chữ nằm bên dưới cánh nó; những nội dung vốn cực kỳ quan trọng cho sự khai mở trí tuệ lại chẳng tài nào thu hút nổi tôi. Mãi cho đến một hôm, cha tôi tình cờ mang từ thị trấn về một cuốn sách. Cuốn sách ấy đã khơi dậy trong tôi niềm hứng thú đọc sách, phần lớn công lao thuộc về bức tranh lớn trị giá sáu liard in trong đó. Bức tranh ấy rực rỡ sắc màu, chia thành nhiều ô vuông, mỗi ô vẽ một loài động vật kèm theo chữ cái đầu tiên trong tên gọi của nó. Đó là bảng chữ cái dạy trẻ học đọc, nhưng phương pháp sư phạm đáng yêu của người tạo ra nó đã đem lại cho tôi cảm giác dễ chịu và mới mẻ biết bao.
Bức tranh quý giá này nên treo ở đâu cho phải? Ở nhà có một chỗ không đâu thích hợp bằng: đó chính là ô cửa sổ nhỏ trong gian phòng của mấy đứa trẻ chúng tôi. Ô cửa này cũng hẹp và nhỏ hệt như cửa sổ ở trường, và cũng có thể ngắm trọn phong cảnh toàn thôn. Giữa thung lũng hình chiếc phễu, vị trí của hai khung cửa sổ ấy tựa như một đôi mắt, một bên nằm phía tả tòa lâu đài có chuồng bồ câu, một bên nằm phía hữu, chia đều cảnh sắc. Dẫu vậy, tôi vẫn chuộng ô cửa sổ ở nhà hơn. Bởi cửa sổ ở trường phần lớn thời gian bị thầy giáo và mấy đứa lớn chiếm mất, phải đợi rất lâu, mãi đến khi thầy rời khỏi chiếc bàn nhỏ một lát, tôi mới có cơ hội nhìn ngắm cảnh vật ngoài khung kính; còn ô cửa nhỏ ở nhà thì tôi có thể tùy ý hưởng thụ, hễ muốn là lúc nào tôi cũng có thể ghé mình lên đó ngắm nhìn toàn cảnh xóm làng. Nơi ấy khiến tôi no mắt trước cảnh đẹp, ngắm mãi không chán. Tôi thấy sương sớm bảng lảng giăng mắc, những ngọn đồi đằng xa uốn lượn từng đường nét dịu dàng. Một cơn gió thoảng qua, làn sương trắng tựa tấm voan mỏng bị vén lên một góc, từ đây tôi có thể trông thấy con suối nhỏ đang róc rách chảy, hàng cây tống quán sủi che bờ, cùng những cây sồi cao vút chọc trời. Có lẽ ở nơi xa hơn vẫn còn những cảnh sắc chưa từng hay biết, nhưng mịt mờ mờ ảo, đầy vẻ huyền bí.
Trên sườn dốc thung lũng rải rác những nếp nhà mái tranh của làng xóm, trước nhà là những mảnh vườn nhỏ bậc thang, những bức tường vây quanh xiêu vẹo ngả nghiêng, chân tường bị đất đùn lồi ra, chực sụp đổ. Những con ngõ nhỏ trong làng đều uốn lượn trên triền dốc gắt, mặt đường lát sỏi gồ ghề lởm chởm. Đi trên lối này, người ta lúc nào cũng phải bước thật cẩn thận, kẻ mang vác nặng khó tránh khỏi đôi phần nơm nớp thót tim.
Tận đáy thung lũng có một ngôi nhà thờ, nhếch lên cao hơn một chút là quảng trường. Đài phun nước ở quảng trường được che chở dưới một mái vòm rộng, nước róc rách chảy từ bể này sang bể khác. Tựa bên cửa sổ, tôi có thể nghe thấy tiếng chày đập áo cùm cụp từng nhịp, tiếng bàn chải cọ nồi sắt ken két chói tai, cùng các bà các cô vừa giặt giũ cọ rửa vừa rôm rả bàn tán xem cháu gái nhà ai gả cho gia đình giàu có, đứa con nhà ai nghịch ngợm quá quắt lại bị ăn đòn, gã chồng nát rượu nhà nào tối qua ở quán xá lại gây gổ cãi cọ với người ta.
Phía ngoài làng chúng tôi, trên lưng chừng đồi có một cây đoạn già, nghe đâu tuổi thọ của nó còn lớn hơn cả cụ già sống thọ nhất làng, đã hơn trăm tuổi rồi. Cây có một cái tên rất đỗi lạ kỳ: Cây Như Thế. Cây đoạn già hiền từ đôn hậu như một cụ già nhân từ, mỗi khi chúng tôi chơi trốn tìm, nó lại dâng tặng thân cây rỗng ruột bị năm tháng bào mòn làm nơi ẩn nấp an toàn tuyệt đối; vào những ngày phiên chợ, vòm lá xum xuê rợp bóng của nó lại tỏa bóng râm mát cho đàn bò cừu qua lại dừng chân.
Mỗi độ làng mở hội lớn thường niên, không khí lại trở nên vô cùng náo nhiệt. Đó là ngày mà cả làng đều ngóng đợi, bởi hôm ấy có biết bao điều mới lạ đáng để ngắm nhìn và vui chơi. Trên tấm vải gai màu xám trải dưới đất, ông chủ hàng vải bày ra từng sấp vải hoa Ấn Độ in hoa nhí, đám thiếu nữ xúm lại ríu rít bàn tán xem mẫu nào hợp với mình hơn. Cách đó không xa là sạp guốc gỗ dẻ gai, ống sáo gỗ hoàng dương và những con quay nhỏ. Một người cha đang cẩn thận chọn quay cho cậu con trai bé bỏng; những con quay rực rỡ sắc màu tít mù trên mặt đất, xoay tròn thành từng vệt màu tươi tắn. Mọi người đặc biệt thích trò bàn quay may rủi, vây quanh trong ngoài đến mấy tầng. Chỉ cần trả một su là được quyền quay một lần, ai nấy đều thầm cầu mong kim chỉ dừng đúng vào chấm tròn mình mong đợi, để nhận về phần thưởng có giá trị lớn hơn nhiều so với một su bỏ ra. Thế nhưng bàn quay thường khiến người ta thất vọng, rất nhiều kẻ chẳng lấy được món đồ mình ưng ý, kẻ xui xẻo hơn thậm chí liên tiếp mấy lượt đều ra về tay trắng. Trên quảng trường, những giỏ nho xếp thành từng hàng dài; với thứ quả mới lạ này, người làng mới chỉ vừa biết tới nhưng đã thèm thuồng nhỏ dãi.
Thế nhưng ngày hội trôi qua rất nhanh, khoảng thời gian ngắm nhìn những thứ mới mẻ ấy thật ngắn ngủi. Đến tối, sau khi có vài kẻ mượn rượu làm càn, cả gan cãi cọ một trận với người mình vẫn ghét cay ghét đắng ngày thường, mọi chuyện đều khép lại, làng quê lại trở về với vẻ tĩnh mịch vốn có.
Hãy kéo dòng suy nghĩ của chúng ta rời khỏi những điều mới lạ nơi hội hè, trở về với bức tranh nổi tiếng mang từ thành phố về kia. Tôi dán nó lên khung cửa sổ của mình, một vị trí tuyệt hảo, nơi tôi có thể luân phiên dõi mắt nhìn đài phun nước ngoài quảng trường và ngắm nghía muông thú trong tranh. Cửa sổ nhà tôi cũng giống như ô cửa nhỏ ở trường, phía dưới có một hốc tường. Trong hốc cửa sổ ấy gác một tấm ván nhỏ, đó chính là góc tự học quen thuộc của tôi.
Được rồi, bức tranh rực rỡ sắc màu ơi, hãy dẫn lối cho tôi học tập nào. Con vật đầu tiên xuất hiện là lừa (âne), tên của nó mở đầu bằng chữ A chững chạc, song điều này dường như chẳng mấy ăn nhập với tính nết của nó, bởi con lừa cái nhà thầy giáo hễ động một chút là lại be be kêu rống, chẳng trầm tĩnh chút nào; tiếp theo là bò (bœuf), chữ cái đầu tiên của nó cũng tròn trĩnh tựa như vóc dáng béo múp míp vậy, nó dạy cho tôi chữ B; vịt (canard) dạy tôi đọc chữ C; gà tây (dindon) giúp tôi nhận biết chữ D. Những con khác cứ thế suy ra.
Tôi và những người bạn muông thú tiến bộ rất thuận lợi, nói đúng hơn là phần lớn trong số chúng, bởi vẫn còn vài con tôi chưa quen mặt. Chẳng hạn như hà mã (hippopotame) và bò u (zébu), chúng cũng cố hết sức giúp tôi đọc ra chữ H và chữ Z, nhưng để từ những con vật vừa lạ lẫm vừa kỳ quái này liên tưởng đến chữ cái đầu của chúng quả thực quá đỗi trừu tượng. Mấy phụ âm khó nhằn ấy đã làm tôi đau đầu suốt một thời gian dài.
Đúng lúc việc đọc của tôi lâm vào bế tắc, cha đã kịp thời đến giúp một tay. Tôi tiến bộ vượt bậc, chỉ mấy ngày sau đã có thể đọc vanh vách cuốn sách nhỏ bìa hình chim bồ câu; phải biết rằng chỉ mới mấy hôm trước, cuốn sách ấy vẫn còn là cơn ác mộng, chẳng khác nào sách trời đối với tôi. Thấy tôi biết đánh vần trong thời gian ngắn ngủi đến vậy, cha mẹ đều hết sức kinh ngạc, họ không ngờ bức tranh lại đem đến hiệu quả kỳ diệu nhường này.
Thực ra, điều này rất dễ giải thích. Tác giả bức tranh đã để người học được trò chuyện với loài vật, mà đó lại chính là niềm hứng thú của tôi, thu hút tôi suy ngẫm, liên tưởng và ghi nhớ. Có lẽ qua con đường khác tôi cũng có thể học được những điều này, song chẳng biết sẽ phải tốn bao nhiêu thời gian, phải nếm trải bao nhiêu cay đắng. Bởi vậy, tôi muốn cảm ơn những người bạn muông thú quen thuộc lẫn lạ lẫm này. Muôn thú muôn năm!
Có lẽ những điều may mắn thường rủ nhau cùng đến, chẳng bao lâu sau, có người tặng tôi một cuốn *Ngụ ngôn* của La Phong Đăng để thưởng cho sự tiến bộ của tôi. Cuốn sách trị giá hai mươi su này có rất nhiều tranh minh họa cảnh muông thú đối thoại, tuy những bức tranh ấy rất nhỏ và vẽ cũng chẳng mấy chuẩn xác, nhưng cáo, quạ, ếch, chó và mèo bên trong đều là những người bạn thân thiết của tôi. Dẫu tôi vẫn chưa hiểu tường tận những lời đối thoại của bạn bè trong sách, nhưng chẳng sao cả, chúng tôi còn khối thời gian để từ từ tìm hiểu.
Năm mười tuổi, tôi vào học tại La Đức Trung Học. Nhà trường dạy chúng tôi những câu chuyện anh hùng và thần thoại Hy Lạp. Nhờ khả năng dịch xuôi dịch ngược tiếng Pháp vượt trội, tôi rất được bạn bè trong lớp quý mến. Tôi còn được hưởng chế độ học ngoại trú miễn phí, đổi lại phải đến nhà nguyện nhỏ làm chú bé giúp lễ. Tôi cùng ba học sinh khác mặc áo lễ màu trắng tay rộng, đội mũ tròn đỏ không vành, đôi khi cũng mặc áo choàng dài màu đỏ.
Tôi là đứa nhỏ tuổi nhất trong bốn người, nên chẳng bao giờ nhớ rõ đến lúc nào thì phải làm động tác gì. Thực chất, tôi chỉ là kẻ lấp vào cho đủ quân số. Chúng tôi chia thành từng đôi đối diện nhau cùng bước tới, rồi quỳ xuống giữa ca đoàn. Mỗi khi mọi người xung quanh cất cao bài ca sám hối, tôi lại thấy rợn hết cả tóc gáy, cuối cùng đành phải từ bỏ công việc này.
Giữa những bài tập dịch buồn tẻ cùng cõi mộng ảo của thần thoại và anh hùng, niềm say mê và tình yêu tôi dành cho thiên nhiên chẳng hề suy giảm, cây cỏ và côn trùng chính là nơi gửi gắm hy vọng và chỗ dựa tinh thần của tôi. Vào những lúc rảnh rỗi hay ngày nghỉ, tôi thường đi xem chú chim sẻ ngực đỏ bé bỏng đã ấp nở chim non hay chưa, dế mèn đã giương đôi cánh đỏ hoặc xanh trên bãi cỏ cằn cỗi hay chưa, và những chùm nho tím mọng đã treo lơ lửng trên bụi gai hoang dại hay chưa.
Tôi còn có may mắn được đọc những tác phẩm của Duy Cát Nhĩ. Tôi lắng nghe khúc hát đối đáp của mục ca, ngưỡng mộ cuộc sống điền viên của những người chăn cừu, yêu thích đám thường xuân và mao địa hoàng lan tràn, say đắm những cánh đồng nhuộm vàng bởi bông lúa mềm mại, và chìm đắm trong khúc hoan ca của vạn vật hướng về năm tháng tương lai. Những chi tiết thú vị về ve sầu, ong mật, chim bồ câu và chim sẻ cánh vàng trong sách khiến tôi nghiền ngẫm mãi không quên. Khúc tụng ca đồng quê vang dội của thi hào La Mã ấy đã mang lại cho tôi niềm vui khôn xiết.
Thế rồi, tôi đành phải từ biệt La Đức Trung Học, đành phải nói lời tạm biệt với những khúc thơ nông nghiệp của Duy Cát Nhĩ, bởi trong nhà đã chẳng còn bánh mì để ăn. Có lẽ cuộc đời cũng giống như những ngọn đồi mà chúng tôi sinh sống, luôn có đỉnh cao và vực sâu. Chẳng ai có thể mãi mãi tận hưởng niềm hạnh phúc và thỏa nguyện nơi đỉnh cao, phải trải qua những nốt trầm thì mới gọi là một cuộc đời trọn vẹn. Tôi đang ở đáy vực của cuộc sống, vắt óc nghĩ cách kiếm lấy hai su để mua khoai tây, chẳng biết phải mất bao lâu nữa mới chạm tới đỉnh cao của cuộc đời.
Trong những ngày tháng nơm nớp lo âu ấy, trong chuỗi ngày gian nan khi vừa ăn mẩu bánh mì bữa sáng đã phải canh cánh lo bữa trưa lấy đâu ra khoai tây, có lẽ niềm hứng thú của tôi với côn trùng đáng ra phải lụi tàn, song sức hút của thiên nhiên đối với tôi dường như vĩnh viễn chẳng thể mất đi. Dế mèn và bọ hung thông, thủy tiên trắng và rừng bạch dương, chúng là ánh thái dương trong nỗi khốn cùng của tôi, dường như đang vỗ về tôi rằng: “Hỡi con, đời người ắt phải vượt trùng dương cưỡi ngọn sóng. Hãy phi nhanh tới những ngày tháng vĩ đại!”
Sau khi trải qua đáy vực cuộc đời, nữ thần may mắn đã mỉm cười với tôi. Tôi leo thêm được vài bước trên con dốc cuộc sống khi bước chân vào Trường Sư phạm Sơ cấp Ốc Khắc Lữ Tư. Hiệu trưởng là một người hào sảng, phóng khoáng và có tầm nhìn xa trông rộng, ông bảo đảm tôi sẽ có súp hạt dẻ khô và đậu gà để ăn ở trường; ông đặt trọn niềm tin vào một học sinh chuyển trường như tôi.
Tiếng Latinh và phép chính tả của tôi nhỉnh hơn các bạn học mới một bậc, vì thế khi những người khác lật từ điển kiểm tra kỹ càng bài tập chính tả, tôi lại lén lút nghiên cứu sâu bọ cùng hoa cỏ dưới hộc bàn, bất chấp tất cả để vụng trộm nếm trải phong vị ngọt ngào mà khoa học tự nhiên mang lại.
Nhưng rồi, tôi buộc phải rũ bỏ những niềm vui ấy, rũ bỏ bụi trúc đào và Bọ Hung Thánh mà tôi hằng yêu quý. Vào cái thời buổi mà nhà trường còn chẳng nuôi nổi giáo viên, chúng không thể giúp tôi kiếm được miếng bánh mì qua ngày, chúng bị tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp coi rẻ. Muốn đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của một giáo viên trường sư phạm sơ cấp, tôi phải làm sao đây? Tôi chỉ còn lại môn toán, công cụ vô cùng đơn giản, chỉ cần làm bạn với bảng đen, phấn trắng và vài cuốn sách.
Tôi dồn toàn bộ tâm lực cho phép tính vi tích phân và đường conic. Tôi đơn thương độc mã chiến đấu giữa những công thức khô khốc và các phép tính bất tận, không có thầy giáo chỉ dẫn, cũng chẳng có bạn bè để hỏi han, cứ thế xóa tan bức màn bí ẩn của toán học qua từng ngày kiên trì chống chọi. Tôi sợ mình không cưỡng lại được sự cám dỗ từ một nhánh cỏ mới hay một loài côn trùng cánh màng mới, nên đã ép bản thân phải đè nén nỗi nhớ nhung và niềm khao khát dành cho chúng, thậm chí còn chôn chặt toàn bộ sách vở khoa học tự nhiên xuống tận đáy hòm.
Về sau, tôi được điều đến trường trung học A Nhã Khắc Tu để dạy môn vật lý và hóa học. Lần này, sự cám dỗ đã trở nên quá đỗi mãnh liệt. Dưới vòm trời bao la, biển cả mênh mông hòa làm một với nền trời thăm thẳm, từng con sóng xô những vỏ ốc tuyệt đẹp dạt vào bờ cát; giữa những lùm hương đào mê đắm, hương thơm dâu rừng lan tỏa ngạt ngào. Môn toán học khô khan tiều tụy tỏ ra quá đỗi lép vế trước một thiên nhiên lộng lẫy và tràn đầy tình tứ, chưa đầy một hiệp đã bại trận hoàn toàn.
Cuối cùng tôi đành thỏa hiệp, chia thời gian rảnh rỗi thành hai phần. Dĩ nhiên, phần lớn vẫn phải dành cho toán học dùng để mưu sinh, phần còn lại được tôi rụt rè dùng để quan sát vỏ sò và thu thập mẫu vật. Giữa chốn thiên đường tự nhiên này, nếu không phải nhọc lòng vì miếng bánh mì, không bị các hàm số bủa vây, thì cuộc đời sẽ hoàn mỹ biết bao! Giá như Thượng đế rủ lòng từ bi ban thêm cho tôi mỗi ngày một giờ đồng hồ, để tôi có thêm chút thời gian đắm mình vào niềm đam mê khôn dứt này, dẫu chỉ thế thôi cũng đã tốt lắm rồi!
Có lẽ đó chính là số phận, nó luôn thích trêu đùa; chúng ta dốc hết sức bình sinh, bất chấp tất cả lao về hướng mình đã chọn, thế nhưng nó lại thích thú đẩy ta về hướng ngược lại. Môn toán học từng khiến tôi nếm trải trăm cay nghìn đắng thời trai trẻ, rốt cuộc lại chẳng giúp ích được gì cho tôi; còn lũ sâu bọ từng khiến tôi phải thắt lưng buộc bụng, lại trở thành niềm vui và sự an ủi lớn nhất trong những năm tháng tuổi già.
Chẳng bao lâu sau, tôi làm quen với Lôi Cơ An, một người say mê thực vật nức tiếng thành A Duy Ni Ông. Nói cho đúng thì bậc danh gia này chẳng phải học giả, nhưng ông lại là nhà sưu tầm nhiệt huyết nhất. Ông luôn cắp theo một chiếc hộp giấy bồi màu xám, băng ngang rảo khắp Khoa Tây Gia Đảo để thu thập mẫu vật. Trí nhớ của ông phi thường đến mức đáng kinh ngạc; ông có thể đọc vanh vách tên gọi cùng sự phân bố địa lý chi tiết của từng loài thực vật, thậm chí am tường cặn kẽ từng nhánh cỏ nhỏ, từng mảng rêu phong hay một đóa hoa vô danh. Ông đích thực là một tấm bản đồ sống, một cuốn bách khoa toàn thư sống về sự phân bố của thực vật.
Những lúc rảnh rỗi, tôi thường theo chân Lôi Cơ An bôn ba khắp chốn để thu thập mẫu vật và nghiên cứu cỏ cây. Ông là một người thầy hào phóng và kiên nhẫn, tôi đã học hỏi được rất nhiều về thực vật học từ ông. Giá như tử thần ban thêm cho ông chút ít thời gian, tôi tin chắc ông còn có thể chỉ dạy cho tôi nhiều điều hơn nữa.
Một năm sau, tôi quen biết Mạc Can - Đường Đông, vị giáo sư trứ danh đến từ Toulouse. Nhờ Lôi Cơ An tiến cử, tôi từng trao đổi thư từ với ông về thực vật học. Lần này ông đến vùng chúng tôi với dự định biên soạn một cuốn đồ tập thực vật. Thế nhưng vị giáo sư vừa đặt chân tới nơi đã gặp ngay rắc rối về chỗ trọ: các phòng khách sạn đều đã bị các nghị viên dự kỳ họp hội đồng tỉnh đặt kín. Tôi nhiệt tình đón ông về ăn ở tại nhà mình. Trong bữa cơm, chúng tôi cùng trao đổi kinh nghiệm về thực vật, chuyện trò vô cùng tâm đắc.
Tôi đồng hành cùng ông suốt nửa tháng ròng trong các chuyến đi thu thập mẫu vật, có một bận chúng tôi lên Lôi Nặc Tố Sơn ở trung tâm đảo. Tôi vốn rất quen thuộc ngọn núi này, nhờ vậy đã giúp ông tìm được loài cúc bất tử phủ sương tuyệt đẹp, những đóa hoa tựa như các quý cô thanh nhã khoác trên mình lớp áo bông trắng tinh khôi, người Corse gọi nó là cỏ cừu sừng cong hoặc nữ hoàng Marguerite lông tơ. Vị học giả ấy còn thu thập thêm được rất nhiều chủng loại thực vật quý hiếm khác. Đó chính là niềm vui lớn nhất đời của một nhà thực vật học.
Tôi phải cảm tạ vị học giả này, chính ông đã giúp tôi mở rộng tầm mắt với môn bác vật học. Ông không chỉ đơn thuần là một người sưu tầm thực vật có trí nhớ đáng tin cậy, mà còn là một nhà bác vật học thực thụ, một thi nhân khéo léo dùng ngôn từ giàu hình tượng để dẫn dắt người ta khám phá chân lý.
Ông là một người thầy tốt, một người bạn hiền của tôi. Ông từng bảo tôi: “Hãy từ bỏ toán học đi! Chẳng ai lại hứng thú với mấy công thức và hàm số khô khan cứng nhắc ấy đâu. Hãy đến với thế giới cỏ cây và sâu bọ! Hãy lắng nghe tiếng lòng chân thực nhất của cậu, bầu nhiệt huyết ăn sâu trong tủy xương sẽ đưa cậu tới thành công.” Nhiệt huyết cùng vốn tri thức uyên bác của ông đã lay động tôi sâu sắc. Địa vị vốn đã lung lay của môn toán học nhạt nhẽo nay lại càng bấp bênh. Không, ngay khi đặt chân xuống khỏi đỉnh núi băng giá Lôi Nặc Tố, tôi đã hạ quyết tâm: từ bỏ toán học.
Vào đêm trước lúc rời đi, ông đã dạy cho tôi một tiết học bác vật vô cùng sống động. Với một chiếc kéo lấy từ giỏ khâu và hai chiếc kim may giản dị được tra cán bằng cành nho non, ông thị phạm cho tôi xem quy trình giải phẫu một con ốc sên đặt trong chậu nước sâu. Ông giảng giải và miêu tả tỉ mỉ từng cơ quan của ốc sên. Đó là bài học bác vật học duy nhất tôi từng được nghe trong đời, và cũng là bài học đáng khắc ghi sâu đậm nhất.
Thôi được, đã đến lúc phải đưa ra quyết định cuối cùng, tôi cần tìm kiếm điểm tựa vững chắc nhất cho lựa chọn của mình. Tôi lần giở lại quá khứ, tự soi xét chính bản thân. Tôi nhận ra niềm say mê và kiên trì với khoa học tự nhiên chính là thiên phú của mình. Ngay từ thuở ấu thơ, từ lúc đóa hoa trí tuệ vừa chớm nở, tôi đã có sở thích quan sát và nghiên cứu vạn vật trong tự nhiên. Có lẽ, tôi sinh ra đã mang sẵn tài năng quan sát vạn vật.
Phải rồi, có thể việc tôi cố dùng di truyền học để giải thích điều này nghe thật nực cười. Thế nhưng, trên bước đường theo đuổi khoa học tự nhiên, tôi chưa từng có được sự giáo dục của trường lớp, không có thầy giáo dẫn dắt, cũng chẳng có sách vở trong tay. Vậy mà tôi vẫn kiên trì, vẫn tiến bước, tài năng khó kìm nén ấy rốt cuộc đã đơm hoa kết trái thành những thành quả khiêm tốn. Tôi tin rằng mình sinh ra để làm bạn với loài sâu bọ, sinh ra để làm một họa sĩ vẽ muôn loài muông thú; còn vì sao lại thế, làm sao mà được như thế, chẳng ai có thể tường tận được.
Đó chính là thiên phú, thứ khiến chúng ta vừa lọt lòng đã khác biệt với phần còn lại. Đó là nét đặc trưng ta sở hữu ngay từ khi chưa kịp trưởng thành, một nét đặc trưng mà căn nguyên khôn bề dò thấu. Những thứ này vốn dĩ đã như vậy, thì nó cứ thế tồn tại, chẳng có nguyên do nào hết. Thiên phú không thể truyền đời, từ người này sang người khác luôn biến ảo khôn lường; con trai của một vị tướng cũng có thể là kẻ hèn nhát, còn con cái của gã thợ đóng giày rách lại có thể là thần đồng. Thiên phú cũng chẳng thể cưỡng cầu mà có được, dẫu có gieo nó vào mảnh đất màu mỡ nhất, đặt trong nhà kính ấm áp nhất rồi tận tâm chăm sóc, nhưng nếu trong phôi mầm vốn không chứa sẵn gen thiên phú, thì cũng vĩnh viễn chẳng thể trổ ra đóa hoa tài năng.
Còn thiên phú của loài vật, chính là bản năng. Bản năng và thiên phú đều vượt thoát lên trên sự tầm thường để tồn tại. Bản năng cũng hệt như thiên phú, nó bộc lộ rõ rệt ở một khía cạnh nào đó mà không cần bất kỳ lý do, cũng chẳng tìm thấy lời giải thích nào. Có lẽ nếu ta cất tiếng hỏi đám côn trùng ăn phân hay lũ bọ hoa về điều này, chúng sẽ dựa vào chính tài năng thiên bẩm của mình mà đáp lại: “Bản năng chính là thiên phú của họ hàng sâu bọ chúng tôi.”
Dẫu vậy, khác với thiên phú, bản năng lại được truyền từ đời này sang đời khác. Đối với bất kỳ giống loài nào, bản năng của chúng đều mang tính thế tập, trường tồn bất biến và giống hệt nhau. Bản năng là thứ di sản bất khả xâm phạm tuyệt đối không truyền ra ngoài gia tộc. Nó đối xử công bằng với mọi thành viên trong họ tộc, giáng xuống thân thể của từng cá thể một, không có bất kỳ ngoại lệ nào, cũng chẳng hề bớt xén dù chỉ một li một hào.
