Chương 83
Chương 83: Ruồi thịt kẻ phân hủy xác chết
Đăng ngày 27/09/2026
19
Có một loài côn trùng sống giống ruồi xanh. Tuy màu sắc khác nhau, cả hai đều lấy xác chết làm nguồn thức ăn chính và đều có khả năng hóa lỏng thịt. Đó là ruồi thịt. Nó có màu xám, thân hơi lớn hơn ruồi xanh, lưng nâu, bụng lấm tấm ánh bạc. Đôi mắt đỏ như máu dường như rất hợp với công việc phân hủy xác chết của nó.
Người ta còn gọi ruồi thịt bằng những tên khác, nhưng nó không phải thủ phạm thường xuyên đẻ dòi lên những miếng thịt ta sơ ý không trông coi. Thủ phạm là ruồi xanh lam: loài ruồi thân mập, khi đậu vào kính thường vo ve ầm ĩ.
Ruồi thịt và ruồi xanh thường cộng tác với nhau. Ruồi xanh chỉ kiếm ăn ngoài trời, không bao giờ vào nhà. Ruồi thịt thì bạo dạn hơn. Đôi khi không tìm được thức ăn bên ngoài, nó sẽ mò vào nhà, và hễ đạt được mục đích là lập tức chuồn đi. Trong phòng thí nghiệm ngoài trời của tôi, ruồi thịt vẫn thường lui tới. Những vật dụng cất trong tủ, như bình miệng rộng, tách trà hay cốc thủy tinh, đều có thể trở thành nơi nó tìm đến.
Thỉnh thoảng tôi thu thập ấu trùng ong vò vẽ để làm thí nghiệm. Ruồi thịt lặng lẽ kéo tới, thấy bữa trưa thịnh soạn liền gọi cả đồng loại đến chia phần. Tôi còn bẻ ít trứng luộc cho ấu trùng ruồi xanh, rồi đặt phần lớn còn lại dưới đáy cốc thủy tinh. Ruồi thịt chiếm lấy chỗ thức ăn ấy và sinh sản ngay trên đó. Chẳng phải nó chán món cũ, ham món mới; hễ nơi nào có chất đạm, nơi ấy có thể có ruồi thịt, bởi chất đạm rất hợp khẩu vị của nó.
Nhưng ruồi thịt vẫn thích xác chết nhất. Thú có lông, chim chóc, bò sát hay cá đều có thể thành thức ăn của nó. Ruồi xanh, bạn đồng hành trung thành, thường xuất hiện bên cạnh ruồi thịt. Còn ruồi thịt thì lui tới rất chăm, thường bay đến chiếc vò xem con rắn trong đó đã phân hủy đến độ thích hợp chưa. Nó qua lại quen đường quen lối. Tôi không định nghiên cứu và quan sát giữa cảnh ồn ào ấy, nên đặt một miếng thịt trên bàn làm việc cho tiện theo dõi. Đến kiếm ăn có ruồi thịt ăn xác và ruồi thịt phân đuôi đỏ. Ruồi thịt ăn xác đông hơn, chiếm ưu thế về số lượng; vì thế, phần lớn công việc trong chiếc vò cũng do chúng đảm nhận.
Khi mới bay đến, ruồi thịt ăn xác tỏ ra rất cảnh giác, nhưng dần dần nó sẽ bình tĩnh lại. Trong mắt nó chỉ còn miếng thịt. Một khi bắt tay vào việc, nó làm rất nhanh: chỉ cần hướng bụng vào thịt, nhấp hai cái là xong. Dòi xuất hiện như thế, rồi lập tức biến mất, chẳng thấy tăm tích đâu nữa. Lẽ nào vừa chào đời chúng đã lao ngay vào làm việc? Nhưng vật chất không thể tự nhiên sinh ra hay mất đi. Tìm xem chúng đã đi đâu trở thành một phần quan trọng trong nghiên cứu của tôi. Quan sát kỹ, ta sẽ thấy chúng ẩn trong những nếp thịt và đã bắt đầu hoạt động. Có chừng mười hai con, được sinh ra ngay lúc ta không để ý.
Ở đây có một điều dễ gây hiểu lầm, tôi cần nói cho rõ. Những thứ ruồi thịt sinh ra không phải trứng như ta vẫn tưởng, mà là ấu trùng. Có lẽ vì quá bận rộn, nó không kịp đẻ trứng rồi chờ trứng nở. Với loài đảm nhận việc xử lý xác chết này, thời gian vô cùng quý giá. Trứng ruồi xanh phải đợi một ngày mới nở thành ấu trùng. Ruồi thịt bỏ qua hẳn bước ấy: ngay từ lúc chào đời, con non đã có thể tự mình làm việc.
Mỗi lứa ấu trùng mà tôi thấy ở đây không đông, nhưng khả năng số lượng ấy tăng lên rất lớn. Réaumur đã miêu tả ruồi thịt rất xác đáng: một dải dài có màng mỏng phủ bên trên; dưới lớp màng, các ấu trùng nằm sát nhau thành hàng ngay ngắn, trông như một tấm da cừu. Một nhà nghiên cứu trước đây từng đưa ra con số hai vạn con khi thống kê ấu trùng ruồi thịt. Thật đáng kinh ngạc.
Ruồi thịt sắp đặt cho đàn con của mình thế nào? Việc ấy càng phức tạp vì nó phải đưa từng bọc ấu trùng vào đúng chỗ, một quá trình lâu dài, tỉ mỉ mà nhiều công đoạn phải tự làm lấy. Trước khi sinh ra ngần ấy ấu trùng, nó phải tìm bao nhiêu xác chết? Liệu nó có hoàn thành nổi công việc đồ sộ đó không? Ngoài tự nhiên quả có xác chết, nhưng đâu đến mức dồi dào như vậy! May thay, ruồi thịt không quá kén chọn; ngay cả những cái xác nhỏ bé, ít ai để mắt tới, nó cũng tìm đến. Nếu thức ăn đủ nhiều, nó có thể quay lại nhiều lần và hoạt động rất sung sức. Vào mùa sinh sản cao điểm, nó liên tục đưa từng bọc ấu trùng đến những nơi khác nhau, lần lượt sinh hết số con trong bụng. Nếu quá trình ấy cứ tiếp diễn không ngừng, số lần sinh sản và số ấu trùng sẽ lớn đến mức nào?
Giờ hãy bước vào thế giới của dòi ruồi thịt. Khác biệt lớn nhất giữa nó và dòi ruồi xanh là kích thước lớn hơn, phần đuôi cụt ngang và có một rãnh sâu. Dưới đáy rãnh là lỗ thở. Quanh mép lỗ thở có vài đường vân hình lưỡi liềm tỏa ra các phía. Bằng cách co giãn những đường vân ấy, dòi đóng mở lỗ thở, ngăn chất nhầy bít kín đường hô hấp khiến nó ngạt. Khi toàn thân chìm trong chất lỏng, lỗ thở khép lại như một bông hoa héo co cánh, không để giọt chất lỏng nào lọt vào.
Khi ấu trùng ngoi lên khỏi mặt nước, phần nhô lên đầu tiên là đuôi. Đuôi vừa thoát hẳn khỏi nước, lỗ thở lại mở ra như hoa nở, ở giữa đỏ như nhụy, xung quanh trắng như cánh. Cả đàn dòi đồng loạt chúi đầu vào thứ chất lỏng hôi thối, phần đuôi trắng nổi lên thành một tấm thảm. Nhìn những thứ tựa chiếc mũ ấy liên tục khép mở, phát ra tiếng bụp bụp khe khẽ, người ta có thể quên đi mùi hôi buồn nôn để thưởng thức vẻ đẹp sống động của tự nhiên. Dòi cũng có vẻ đẹp của nó.
Mọi sinh vật đều có cấu tạo phù hợp với cách sống của mình. Để không chết đuối khi làm việc ở những nơi đầy chất lỏng, loài dòi này có cách tự bảo vệ hết sức chặt chẽ và hiệu quả. Lỗ thở ở đuôi nó trông rất đẹp khi khép mở nhịp nhàng, nhưng cái đẹp không phải mục đích cuối cùng. Những đường vân tỏa tia ấy trên dòi ruồi thịt nhắc người quan sát rằng công việc phân hủy xác chết luôn tiềm ẩn nguy cơ chết đuối. Hãy nhớ lại chuyện dòi ruồi xanh sống nhờ lòng trắng trứng luộc. Dù đó là món ăn hợp khẩu vị, dịch do chúng tiết ra vẫn dần biến thức ăn thành một thứ rất loãng, đến mức ấu trùng có thể chết đuối trong chính chất lỏng tạo ra từ thức ăn ban đầu còn rắn. Nguy hiểm ấy một phần đến từ cơ thể chúng: đuôi nằm ngang mặt chất lỏng mà không có cơ chế bảo vệ tương ứng. Nếu chìm xuống và không có chỗ bám, chúng rất dễ mất mạng.
Dòi ruồi thịt có sẵn ưu thế giúp nó tránh nguy hiểm, nên ngay cả trong vũng lầy, nó cũng không lo chết đuối. Phần đuôi nhô cao giữ lỗ thở nổi trên mặt nước. Khi cần đi vào chỗ ngập sâu, cơ quan giống cánh hoa ấy tự động khép lại, ngăn nước lọt vào lỗ thở.
Để nghiên cứu kỹ hơn, chúng tôi đặt vài con dòi ruồi thịt lên một tấm bìa cứng sạch. Vừa chạm tấm bìa, chúng đã hoạt động rất hăng, lỗ thở cũng mở ra. Toàn bộ phần quanh lỗ thở chuyển động, giúp cơ thể giữ được điểm tựa cần thiết. Tấm bìa đặt cách cửa sổ hơn một mét. Dù ánh sáng khá yếu, đàn dòi vẫn không ngừng di chuyển. Tất cả đều bò về phía khuất sáng. Chúng biết phải đi đâu. Nếu xoay tấm bìa để hướng chúng về phía cửa sổ, chúng lập tức phản ứng, đổi hướng rồi vẫn bò đến chỗ tối, hoàn toàn không mất phương hướng vì tấm bìa bị xoay.
Trong một khoảng không gian nhỏ như vậy, chúng vẫn kiên quyết chọn đường đi. Nếu mở rộng phạm vi hoạt động thì sao? Tôi thả cả đàn xuống sàn. Để xem xét từng con riêng lẻ, tôi dùng nhíp đổi hướng những con đang bò trốn. Nhưng dù bị xoay thế nào, cuối cùng chúng vẫn chọn con đường của mình. Tôi đành chịu, đồng thời không khỏi kinh ngạc trước bản năng ấy. Chúng tránh chút ánh sáng ít ỏi như thể chỉ muốn vĩnh viễn không nhìn thấy thứ ánh sáng đáng ghét đó nữa. Tôi lại làm một thí nghiệm thú vị: dùng tấm chắn ngăn ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào. Lúc này, dù xoay tấm bìa hay dùng nhíp đổi hướng di chuyển, chúng vẫn bò tiếp theo đường ấy. Nhưng hễ để ánh sáng lọt vào, chúng lập tức chạy về phía tối.
Ta đã phần nào biết môi trường và tập tính sống của loài dòi. Chúng sống lâu ngày ở nơi tối tăm, ẩm ướt, kiếm ăn bằng cách phân hủy xác chết; tránh ánh sáng là chuyện dễ hiểu. Song những thí nghiệm vừa rồi cho thấy chúng nhạy cảm với ánh sáng đến mức bất ngờ. Vậy cơ quan cảm nhận ánh sáng của chúng nằm ở đâu? Nếu dòi có thể coi là có đầu, thì ở phần đầu ấy cũng không thấy thứ gì giống cơ quan cảm nhận ánh sáng. Làn da nhẵn nhụi, trơn tuột của nó cũng không có bộ phận nào như vậy.
Không thấy cơ quan cảm giác nào giúp chúng nhận biết ánh sáng để tránh đi, thế mà phản ứng của chúng lại mạnh đến thế. Ngay cả dưới ánh sáng lờ mờ, chúng cũng trở nên bồn chồn, bất an. Thực ra, làn da thô ráp của con người cũng có thể cảm nhận trực tiếp tác động của ánh sáng thay đổi lên cơ thể.
Phản ứng khác thường với ánh sáng khiến chúng vừa gặp sáng đã tìm cách lẩn trốn. Liệu đằng sau đó có nguyên nhân khoa học nào cần khám phá? Có lẽ bức xạ trong ánh sáng khiến chúng không chịu nổi, hoặc một loại tia hay ion nào đó đã kích thích chúng. Tốt nhất nên dùng thiết bị quang học chính xác để nghiên cứu; biết đâu nhờ vậy sẽ tìm được bằng chứng. Bản thân tôi rất hứng thú với vấn đề này, nhưng thực tế không có đủ kinh phí để tiến hành. Hiện giờ chẳng ai ủng hộ, tôi cũng không dám mong sau này sẽ có người tiếp tục công việc ấy. Dù vậy, tôi nhất quyết không từ bỏ việc nghiên cứu.
Ấu trùng chỉ cảm thấy an toàn khi chui xuống đất, nơi chúng sẽ hóa nhộng. Dĩ nhiên, chúng chui xuống còn để tránh ánh sáng đáng ghét. Hơn nữa, loài dòi nào cũng thích rời khỏi bầy, sống riêng lẻ một mình; có lẽ chúng muốn tránh xa mọi xáo động.
Chúng chọn chỗ đất tương đối tơi xốp để đào xuống, thường không sâu quá 10 xăng-ti-mét, bởi đôi cánh mảnh mai, yếu ớt của con ruồi sau này sẽ gặp khó khăn khi chui lên khỏi mặt đất. Tất nhiên, trước đó chúng còn phải trải qua quá trình biến đổi để trở thành ruồi trưởng thành. Ở độ sâu thích hợp, chúng tìm được chốn trú ngụ yên ổn: đủ tối và đủ an toàn. Nhưng nếu thay đổi độ dày của lớp đất, liệu dòi còn được yên ổn không? Tôi thử tìm câu trả lời bằng một thí nghiệm. Tôi lấy một ống thủy tinh dài khoảng 100 xăng-ti-mét, rộng 2,5 xăng-ti-mét, nút một đầu bằng nút bần rồi đổ đầy cát mịn đã rây. Sau đó, tôi thả vào những con dòi ruồi thịt lớn lên nhờ ăn thịt và treo ống theo chiều thẳng đứng. Tôi cũng làm tương tự với một chiếc lọ thủy tinh miệng rộng bằng khoảng cách từ đầu ngón cái đến đầu ngón giữa, hoặc ngón út, khi xòe bàn tay. Tôi đổ đầy cát mịn, thả dòi vào rồi chờ quan sát.
Trước hết là kết quả trong lọ miệng rộng. Dòi ruồi thịt chui xuống cát đúng như những gì tôi từng quan sát ngoài tự nhiên. Chúng tìm được nơi trú ngụ, bên trên và xung quanh đều có lớp cát dày che chở. Thế là chúng thôi bồn chồn, trở nên yên ổn. Nhưng trong ống thủy tinh, tình hình lại khác. Chúng ra sức đào xuống, sâu hơn nhiều so với mức bản thân có thể chịu đựng; có con thậm chí chạm tới nút bần dưới đáy. Điều gì khiến chúng bất an đến mức phải tìm sự yên ổn bên dưới lớp cát dày như thế? Câu trả lời là chúng đang chạy trốn. Nhưng chạy trốn thứ gì? Ánh sáng ư? Rõ ràng không hẳn, bởi lớp cát chỉ dày một xăng-ti-mét cũng đã chặn hết ánh sáng. Vậy ánh sáng không phải nguyên nhân duy nhất; có thể còn một loại tia khác khiến chúng bất an và phải đào sâu để lẩn tránh. Đó mới chỉ là phỏng đoán, vì tôi không có điều kiện làm thí nghiệm chuyên sâu để đi đến kết luận.
Dĩ nhiên, việc dòi ruồi thịt đào sâu như vậy là kết quả của thí nghiệm; thực ra chúng không cần xuống sâu đến thế. Chúng dường như biết rằng đào quá sâu sẽ khó chui lên khỏi mặt đất. Đó là một công việc gian nan, phức tạp: phải vượt qua bao trở ngại mới thoát ra được, vừa đào thì cát đất vừa sụt xuống, mà chúng chẳng có công cụ nào ngoài chính cơ thể mình. Khi đào xuống, dòi có thể dựa vào những chiếc móc của nó. Nhưng lúc chui lên, nó không có công cụ nào như vậy. Ruồi thịt thuộc bộ Hai cánh, thân thể lại yếu ớt. Vậy nó thoát khỏi lòng đất bằng cách nào? Quan sát dòi ruồi thịt trong ống nghiệm chui lên, chúng ta có thể suy ra cách những loài ruồi khác làm việc ấy. Yếu ớt không có nghĩa là không có sức. Ở vùng mắt của dòi có hai chỗ phồng lên. Chính chúng khiến phần đầu nở nhanh gấp hai, ba lần, tạo lực làm vỡ vỏ nhộng. Chỗ phồng liên tục co giãn, lay động, dần nới lỏng lớp vỏ.
Cuối cùng, phần đầu nhô ra trước. Nếu không quan sát kỹ, ta sẽ tưởng lúc này thân nó bất động; chỉ có hai chỗ phồng trên đầu vẫn liên tục căng lên và chuyển động. Chúng giúp nó cởi bỏ lớp vỏ bọc nhộng. Khi căng hết cỡ, chúng làm lộ ra đôi mắt của ruồi thịt và đẩy bật vỏ nhộng.
Sau khi vỏ vỡ, những túi khí ấy vẫn căng chứ không xẹp xuống. Nghiên cứu thêm, tôi mới thấy vai trò của chúng lớn đến nhường nào. Với con ruồi, túi khí giống như nơi chứa tạm. Để thoát khỏi vỏ nhộng dễ hơn, nó cần thu nhỏ cơ thể hết mức có thể, nên trong quá trình chui ra đã dồn một lượng lớn máu vào túi khí. Đó là lý do túi khí phồng lên. Cả quá trình này vô cùng khó khăn và mất nhiều thời gian.
Đó là quá trình cơ bản khi dòi ruồi thịt phá vỏ nhộng, cũng là cách các loài ruồi thoát khỏi lớp vỏ ấy. Đôi cánh chưa phát triển hoàn chỉnh của ruồi thịt lúc này chỉ gần chạm tới bụng và còn rất mềm yếu. Vừa ra khỏi vỏ, chúng không chịu nổi bất kỳ sự cọ xát nào. May thay, phía ngoài mỗi cánh có một khe lõm sâu, giúp giảm bớt lực cọ xát lên đôi cánh non.
Liên tục sử dụng hai chỗ phồng trên đầu là cách chủ yếu để chúng thoát khỏi lớp đất. Mỗi lần phồng lên rồi xẹp xuống, chúng đẩy cát phía trên nhích lên và trượt xuống dưới. Đôi chân cũng phải phối hợp: con ruồi duỗi chân hết sức để khi phần đầu chuyển động, bên dưới thân có thêm khoảng trống. Cát theo đó trượt xuống dưới chân. Nó chỉ cần đạp lên lớp cát ấy để nâng mình lên một chút; đầu tiến được bao xa thì lượng cát tương ứng sẽ lấp vào khoảng trống phía sau. Thời gian thoát lên còn tùy vào độ khô và khả năng dịch chuyển của cát. Nếu gặp lớp cát khô, dễ trượt, quá trình sẽ nhanh hơn nhiều: chừng một khắc đồng hồ, cơ thể nó có thể nhích lên được 1,5 đề-xi-mét.
Khi chui lên khỏi mặt đất, con ruồi phủ đầy cát và đất. Nó lập tức giũ sạch thân mình, làm phồng phần trán để các đốt cuối ở chân trước có thể chải sạch bên trong chỗ phồng. Trước khi khép bộ phận đặc biệt ấy lại, nó phải chắc chắn không còn chút cát đất nào bên trong. Một khi đã khép, trán nó sẽ không mở ra nữa. Nó cẩn thận chải hết lượt này đến lượt khác, chỉ thu bộ phận ấy lại khi đã sạch hẳn. Lúc này, nó dường như cũng lớn lên: những khe lõm bên ngoài cánh biến mất, đôi cánh đã to và cứng cáp hơn. Nó đứng bất động trên mặt cát như đang thực hiện một nghi lễ. Đây là lần đầu tiên con ruồi trưởng thành cảm nhận niềm vui trước khi được tự do bay đi tìm thứ nó yêu thích nhất: xác chết. Và từ lúc này, nó không còn cô độc nữa.
