Chương 85
Chương 85: Ngụ ngôn ve sầu và kiến
Đăng ngày 27/09/2026
19
Dường như con người rất thích tìm hiểu sự vật qua những lời đồn đại. Dù là về con người, động vật hay một sự việc nào đó, mọi người thường có xu hướng tin vào những thông tin đọc được trong sách vở, nghe từ miệng người khác hoặc qua muôn vàn kênh khác nhau. Dường như chẳng ai buồn đi kiểm chứng lại xem, trong số những điều lưu truyền bấy lâu ấy, có biết bao chuyện kỳ thực hết sức nực cười và phản khoa học.
Chẳng hạn như câu chuyện về ve sầu và kiến, ngụ ngôn này có lẽ rất nhiều người đã nghe từ thuở ấu thơ. Suốt cả mùa hè, ve sầu cất cao tiếng hát trên cành cây. Thấy đàn kiến lũ lượt tha mồi về tổ, nó thấy thật nực cười, bèn hỏi kiến: "Đang giữa mùa hè, thức ăn ngon lành ê hề như vậy, cớ sao phải vội vã tích trữ làm gì? Vả lại trời đang nóng nực thế này, lao động dưới thời tiết như vậy thật là khổ sở biết bao!" Kiến thật lòng bảo ve sầu: "Mùa hè sẽ qua nhanh thôi, thu sang thì chẳng còn nhiều thức ăn cho chúng tôi tích trữ nữa, nếu vậy thì mùa đông đến sẽ chết đói mất." Nhưng ve sầu nghe xong lại chẳng để tâm, thậm chí còn cho rằng kiến lo bò trắng răng, rồi tiếp tục cất giọng hát vang trên cây. Chẳng mấy chốc mùa hè đã trôi qua, mùa thu tiêu điều ảm đạm ùa về, ve sầu mỗi ngày bận rộn kiếm ăn mà bụng vẫn đói meo, nói gì đến chuyện tích lương trữ thảo. Đến mùa đông, ve sầu chịu đói chịu rét, rốt cuộc có một ngày, nó không chịu nổi nữa bèn mò đến nhà kiến, cầu xin kiến bố thí cho chút thức ăn. Nhưng kiến lại bảo: "Trước kia lúc chúng tôi cật lực lao động thì bạn ca hát, giờ thì bạn đi mà nhảy múa đi!" Câu chuyện ngụ ngôn này đã in sâu vào ký ức tuổi thơ của rất nhiều cô bé cậu bé, khắc sâu một định kiến: ve sầu là kẻ lười biếng, chớ có học theo nó, kẻo chẳng có kết cục tốt lành.
Câu chuyện ngụ ngôn này suốt một thời gian dài sau đó, thậm chí cho đến tận bây giờ, vẫn ảnh hưởng sâu rộng đến người đời. Đến nay ai nấy vẫn đinh ninh ve sầu là kẻ lười biếng thích khoe mẽ giọng ca. Nhưng sự thật có đúng như vậy chăng? Đương nhiên là không. Ve sầu sống ở những vùng có cây ô liu, và trên thực tế, ở vùng này hiếm ai nghe thấy tiếng ve kêu. Thế nhưng mọi người vẫn cứ nghĩ nó là giống lười biếng chỉ biết hát ca. Bởi con người thường rất tin vào ký ức tuổi thơ, cũng như một thời gian dài người ta tin trong rừng sâu có con sói xám nuốt chửng cô bé quàng khăn đỏ. Khi một câu chuyện ngụ ngôn như thế xuất hiện trong những cuốn sách yêu thích, trẻ con sẽ phát huy bản tính của mình mà đem kể cho những người xung quanh. Người lớn cũng nghĩ những thiên thần nhỏ bi bô tập nói thì chẳng biết nói dối, huống hồ bản thân họ từ bé cũng từng học qua câu chuyện này. Thế là thanh danh của ve sầu cứ thế bị hủy hoại. Trong miệng người đời, nó trở thành kẻ đáng thương chết đói vào mùa đông, thành tên ăn mày nhỏ bé đi ngửa tay xin xỏ kiến, thi thoảng còn phải trộm thóc rơi vãi ngoài sân để giữ mạng. Ve sầu trong mắt chúng ta quả thật chẳng còn chút điểm tốt nào.
Nhưng sự thật lại là: mùa đông căn bản làm gì có ve sầu, cũng như chúng ta chẳng thể thấy tuyết rơi giữa mùa hè vậy; ve sầu cũng chẳng bao giờ đi trộm những hạt gạo rơi rụng ngoài sân, bởi ăn thứ đó sẽ làm hỏng chiếc vòi hút mỏng manh yếu ớt của nó; càng không có chuyện nó đi ăn xin đàn kiến nhỏ — bảo bạn đi nói chuyện với chim chóc thì có thông được không? Dù bao sự thật rành rành bày ra trước mắt, người ta vẫn cứ khăng khăng bảo ve sầu là loài lười nhác kêu râm ran không ngớt.
Gây nên sai lầm nực cười nhường này, khiến ve sầu phải gánh chịu tiếng xấu oan uổng bao đời, kẻ đầu têu rốt cuộc là ai? Chỉ có thể là tác giả của bài ngụ ngôn ấy — La Phong Đăng. Dĩ nhiên trước hết phải thừa nhận rằng, trong các câu chuyện ngụ ngôn của ông, nhiều miêu tả về những loài động vật khác đều rất tinh tế. Những nét vẽ về quạ, chồn, dê núi, mèo, cáo hay chó sói đều sống động vô cùng; lại thêm thủ pháp ngụ ngôn tài tình khiến truyện của ông vừa tỉ mỉ sâu sắc lại vừa sinh động hoạt bát. Thêm vào đó, miêu tả của ông về tập tính và phẩm tính của muôn loài phần nhiều đều chuẩn xác, nên người đời hiếm khi mảy may nghi ngờ nội dung trong sách.
Nhưng người ta đâu nghĩ tới rằng, những loài vật kia đều là giống ông từng trông thấy, từng dụng tâm quan sát, thậm chí chúng còn từng lũ lượt kéo đến trước cửa nhà ông, nên tập tính sinh hoạt của chúng La Phong Đăng đương nhiên nắm rất rõ. Nhưng ve sầu lại chẳng phải giống loài quen thuộc với ông. Ông chỉ dựa vào tiếng kêu tình cờ nghe được và ấn tượng mơ hồ trước kia về ve sầu, rồi nhận nhầm muỗm thành ve sầu. Sai sót này dưới mắt ông chẳng đáng là bao, nhưng lại khiến ve sầu bao đời nay phải chịu biết bao nỗi hàm oan.
Mức độ lan truyền rộng rãi của câu chuyện ngụ ngôn này thật khiến người ta kinh ngạc. Những câu chuyện của nhà ngụ ngôn học người Pháp này rất được đón nhận, giản dị dễ hiểu, lại giúp con trẻ học được bao điều bổ ích. Thực ra từ rất lâu trước thời La Phong Đăng, đã có người viết nên truyện ngụ ngôn này, ấy chính là ngụ ngôn Hy Lạp. Cho nên ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, trẻ con đã biết ve sầu là kẻ lười biếng chỉ biết hưởng lạc, để rồi chuốc lấy kết cục bi thảm. Khi đeo chiếc giỏ cói đựng đầy sung và ô liu, tung tăng nhảy chân sáo đến trường, chúng thường cất cao giọng ôn lại bài ngụ ngôn trong sách. Tuy tình tiết nghe qua chẳng sinh động bằng nét bút của La Phong Đăng về sau, nhưng nội dung đại để vẫn như nhau: đều kể về chuyện ve sầu mùa hè không chịu khó làm lụng, cuối cùng bị chết cóng vào mùa đông.
Lại có người muốn truyện ngụ ngôn của La Phong Đăng thêm phần sinh động, bèn vẽ tranh minh họa cho tác phẩm của ông, đó chính là họa sĩ Grandville, cũng là người Pháp. Nhưng đáng tiếc, người họa sĩ giàu trí tưởng tượng này lại giẫm vào vết xe đổ. Cảnh tượng trong tranh hẳn là khoảnh khắc diễn ra vào mùa đông trong truyện: Kiến như một bà nội trợ đảm đang, dường như đã bắt đầu tất bật khiêng những hạt lúa ẩm ra phơi; còn ve sầu tội nghiệp bấy giờ lại khúm núm đứng trước cửa, thò cánh tay dài thượt vào nhà kiến hòng cầu xin chút bố thí. Thế nhưng kiến lại thốt ra câu nói khiến lũ trẻ khắc cốt ghi tâm nhất: "Mùa hè bạn ca hát, vậy giờ cứ thỏa sức mà nhảy múa đi." Để tăng thêm tính châm biếm cho bức tranh, Grandville còn cho ve sầu khoác lên mình y phục mũ mão bảnh bao, thậm chí ban cho nó cây đàn ghi-ta của người nghệ sĩ, nhằm ngầm ám chỉ kẻ lười nhác ca hát suốt mùa hè nay đã phải nhận lấy hình phạt đích đáng. Nhưng chính cây đàn ghi-ta ấy lại bộc lộ sai lầm của ông trong vấn đề này. Hẳn ông cũng giống như La Phong Đăng, đã gán bừa cái tên ve sầu cho loài muỗm.
Nhưng điều khiến tôi càng không thể tha thứ hơn lại là các văn gia Hy Lạp. La Phong Đăng không hiểu về ve sầu, chỉ nghe qua loa vài lời từ các nhà giải phẫu học, cộng thêm suy đoán của bản thân và trí tưởng tượng bay bổng, mới biến ve sầu thành con sâu bọ tội nghiệp suốt mùa hè chỉ biết ca hát chẳng buồn kiếm ăn, cuối cùng chết rũ trong cảnh đói rét giữa mùa đông. Nhưng các văn gia Hy Lạp thì khác, ngày ngày họ đều trông thấy ve sầu, chỉ cần để tâm một chút, thậm chí chỉ liếc qua thôi, cũng chẳng thể nào bịa ra câu chuyện ngụ ngôn hoang đường đến thế. Nếu bảo họ thừa hưởng câu chuyện về kiến và ve sầu từ Ấn Độ cổ đại, thì lại càng khó lòng tha thứ, bởi điều đó chứng tỏ họ không những chẳng chịu quan sát cuộc sống xung quanh mình, chỉ biết mù quáng rập khuôn theo truyền thống, mà còn phơi bày sự nông cạn khi lĩnh hội ngụ ngôn. Nền văn minh Ấn Độ cổ đại khi lưu truyền câu chuyện này vốn cốt để răn dạy con người phải biết lo xa, chuẩn bị chu đáo cho chuỗi ngày mai sau, ngõ hầu tránh cảnh trở tay không kịp khi hoạn nạn ập tới. Thế nên nhân vật chính ban đầu trong truyện rất có thể căn bản chẳng phải ve sầu, mà chỉ là một loài côn trùng bất kỳ nào đó. Người ta thậm chí từ câu chuyện này mà nảy sinh biết bao suy ngẫm sâu xa, hệt như về sau khi lần đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng của nước, nhân loại bèn ra sức kêu gọi tiết kiệm nước vậy. Câu chuyện ấy lưu truyền rộng rãi bên bờ sông Ấn, luôn nhắc nhở người đời phải đề phòng tai ương. Chuyện truyền từ đời này sang đời khác, chẳng ai cố ý đi rêu rao, nhưng bất kể người lớn hay trẻ nhỏ đều tỏ tường câu chuyện ấy, và những dị bản họ kể ra đại thể cũng giống nhau. Nhưng chẳng phải ai cũng nhớ rõ diện mạo ban đầu của câu chuyện. Một khi ký ức đã biến dạng mà vẫn tiếp tục lưu truyền, ắt sẽ mở đầu cho những sai lệch; để rồi đến cuối cùng, khi đi vào ký ức của người Hy Lạp cổ đại, đã chẳng còn ai hay biết triết lý sâu xa thuở ban đầu, chỉ còn nhớ lời răn dạy rằng: con ve sầu xưa kia chỉ biết hưởng thụ những ngày êm ả rốt cuộc đã chuốc lấy quả báo thích đáng. Ve sầu tội nghiệp vì câu chuyện ngụ ngôn ấy mà phải mang tiếng oan suốt bao đời, và dường như chẳng bao giờ gột rửa nổi.
Tất nhiên, mọi điều tôi đang làm lúc này là muốn giải oan cho con vật nhỏ bé tội nghiệp ấy, trả lại sự trong sạch cho nó. Nhưng có một điểm tôi vẫn phải thẳng thắn thừa nhận, chúng quả thực khá ồn ào huyên náo. Sở dĩ tôi hiểu rõ như vậy là vì chúng chính là hàng xóm của tôi. Ngoài cửa nhà tôi có hai cây tiêu huyền, mỗi độ hè về, cành lá rậm rạp xanh tươi tựa như đang cất lời hiệu triệu đầy ma lực, khiến chúng lũ lượt kéo tới, như thể đến chậm thì chẳng còn chốn dung thân, rồi sau đó bắt đầu cất cao tiếng hát. Tiếng hát của một con ve có lẽ còn khiến người ta có tâm trạng lắng nghe, thưởng thức với một tâm hồn thư thái. Nhưng khi hàng trăm ca sĩ như thế cùng nhau cất giọng bên ngoài cửa sổ, chẳng còn ai có thể cảm nhận được vẻ êm tai trong đó nữa. Vì vậy tôi chỉ còn cách dậy thật sớm, tranh thủ lúc chúng chưa chuẩn bị cất tiếng ca, chỉ có khoảng thời gian đó tôi mới đủ tỉnh táo để làm việc. Đợi đến khi chúng dần dần thức giấc, thế là lại cất tiếng hát vang rền. Đôi khi tôi thực sự cảm thấy âm thanh ấy chỉ có thể dùng từ đinh tai nhức óc để miêu tả, màng nhĩ như đang phải chịu đựng một sức công phá chưa từng có. Toàn bộ đầu óc chẳng còn nghĩ ngợi được gì, chỉ ngập tràn những tiếng ồn ào hỗn loạn, nói gì đến chuyện viết lách. Có thể nhiều người còn nuôi sinh vật nhỏ bé này trong nhà chỉ để lắng nghe tiếng râm ran vui tươi của chúng mỗi khi tâm trạng buồn phiền, nhưng tôi thì khác. Họa chăng chỉ có một con thì tôi cũng rất thích, ngặt nỗi vấn đề hiện giờ là hàng trăm con ve cùng nhau gào thét bên tai, thực sự khiến người ta không sao chịu nổi.
Có lẽ vì giữa tôi và chúng chẳng thể nào giao tiếp được, nên đôi bên đều thấy đối phương có phần ngang ngược vô lý. Giờ đây, ngày nào tôi cũng phải dậy từ rất sớm mới mong có được một khoảng thời gian yên tĩnh trước khi chúng cất tiếng hát để vùi đầu vào công việc. Phải biết rằng, những con chữ mà tôi nhọc công diễn đạt này là đang đòi lại công bằng cho chúng đấy, chúng không thể biết điều một chút, phối hợp một chút, cho tôi một khoảng lặng hay sao? Nhưng nếu đứng ở góc độ của ve sầu, giả sử chúng hiểu được tôi đang nói gì, e rằng chúng cũng sẽ thấy tôi thật vô lý hết sức. Bởi vì từ rất lâu trước khi tôi dọn đến đây, hai cây tiêu huyền cao lớn kia đã đứng sừng sững ở đó rồi, nơi này vốn đã là tụ điểm họp mặt của chúng, đối với chúng, e rằng tôi mới là kẻ không mời mà đến. Cho nên tôi căn bản chẳng có tư cách gì để ra lệnh cho chúng phải giữ im lặng.
Dẫu có đôi chút bực dọc, tôi vẫn sẵn lòng đi tìm kiếm sự thật để trả lại sự trong sạch cho những sinh linh tội nghiệp này. Mặc cho âm thanh của chúng tưởng chừng sắp xé rách màng nhĩ, tôi vẫn ngồi dưới gốc cây suốt mấy ngày liền để quan sát đàn sinh vật nhỏ bé này. Điều đầu tiên tôi có thể khẳng định là chúng chẳng hề lười biếng chút nào. Tháng Bảy ở nơi đây nóng đến mức khiến bao người không chịu nổi, huống chi là những loài côn trùng bé nhỏ kia. Dưới thời tiết hầm hập như thiêu như đốt, chúng thậm chí đánh mất cả sức sống ngày thường, nằm im thin thít, muốn đi tìm nguồn nước ngọt nhưng lại sợ bỏ mạng giữa đường, đành phải sốt ruột và bất lực chờ đợi. Thế nhưng ve sầu dường như chẳng hề sợ hãi cái nóng nực này. Nó cứ thong dong đậu trên thân cây, rồi dùng chiếc vòi nhỏ cứng cáp như mũi khoan điện cắm vào lớp vỏ cây một lỗ nhỏ. Dưới lớp vỏ cây trông có vẻ cứng ngắc kia thực ra đã sớm ngập tràn nhựa sống dưới ánh mặt trời nung nấu, thứ ấy đối với chúng chẳng khác nào rượu ngon ngọt lành. Chúng thỏa thuê hút lấy, cất cao tiếng hát, dường như cái nóng nực của mùa hè chẳng mảy may liên quan đến mình.
Hành động phô trương ấy hiển nhiên nhanh chóng thu hút sự chú ý của các loài côn trùng khác. Tôi rất mừng vì đã không vội vã kết thúc cuộc quan sát của mình, bởi cảnh tượng diễn ra tiếp theo chính là bằng chứng đanh thép để tôi giải oan cho loài ve. Lúc này, tất cả lũ côn trùng nhỏ đều đang khát khô cổ họng, nhưng lại không dám mù quáng xông ra ngoài tìm nguồn nước, bởi làm vậy rất có thể sẽ mất mạng. Thế nên chúng chỉ đứng yên tại chỗ nhìn quanh quất, phải xác định được vị trí nguồn nước rồi mới hành động. Rất nhanh sau đó, chiếc giếng nhỏ do ve sầu khoan trên cành cây bắt đầu róc rách tuôn ra dòng suối ngọt. Điều này khó lòng mà không kinh động đến các loài côn trùng khác: bay trên trời, treo trên cây, bò dưới đất, thế giới vừa rồi còn tĩnh lặng bỗng chốc trở nên huyên náo tột cùng. Tất cả ùa tới như ong vỡ tổ: ong mật, ruồi bọ, bọ hoa... và đương nhiên đông đảo nhất chính là đội quân kiến, kẻ đã ra sức chế giễu ve sầu ở phần kết của câu chuyện ngụ ngôn. Chúng vây kín chiếc giếng nhỏ đang trào ra dòng nước ngọt, nơi nào dòng nhựa chảy qua đều bị liếm sạch sành sanh. Lũ kiến nhỏ ban đầu không dám tới quá gần, bởi trong số những kẻ đến hôi của thành quả lao động của ve sầu, kích thước của chúng là nhỏ nhất, chúng phải đợi xác định không có nguy hiểm mới dám hành động. Vì thế thoạt tiên, chúng chỉ quanh quẩn bên cạnh ve sầu, cẩn thận từng li từng tí uống một chút. Ve sầu thì lại rất hào phóng, tự giác nhấc chân lên để lũ nhóc này có thể ghé sát miệng giếng mà uống cho thỏa thuê. Nhưng hành động ấy dường như đã tiếp thêm lòng can đảm tột độ cho lũ kiến, chúng xông xáo tràn lên, hoàn toàn biến thành một lũ cướp bóc được đằng chân lân đằng đầu. Lúc đầu còn không dám lại gần, giờ đây những con bạo gan hơn thậm chí bắt đầu cắn rỉa chân ve sầu. Chúng thậm chí chẳng hề nghĩ rằng, nếu không nhờ ve sầu độ lượng nhấc chân lên ban nãy thì chúng căn bản chẳng có cơ hội nào tiếp cận miệng giếng. Thậm chí có những con kiến nực cười đến mức trèo lên đầu ve sầu, túm lấy vòi của nó rồi ra sức bẻ ngược về phía sau, hẳn là chúng tưởng rằng chỉ cần nhổ được chiếc vòi ra thì dòng nước ngọt trong giếng sẽ phun trào xối xả. Ve sầu bị lũ tranh đoạt vô liêm sỉ này làm cho mất hết kiên nhẫn, dù sao mình cũng có tài khoan giếng, nó quyết định bỏ lại miệng giếng này để khỏi bị lũ sinh vật đáng ghét kia làm phiền lòng. Đương nhiên trước khi đi, nó còn dạy cho chúng một bài học bằng cách tè một bãi ngay trên đầu chúng. Dẫu phải chịu nỗi sỉ nhục ấy, lũ kiến vẫn hớn hở vây quanh chiếc giếng nhỏ, ngỡ rằng dòng nước ngọt bên trong sẽ không ngừng tuôn chảy. Thực ra chúng đâu biết rằng, vòi của ve sầu không chỉ là một cỗ máy khoan giếng mà còn là một chiếc máy bơm thu nhỏ, không có nó, chiếc giếng này sẽ nhanh chóng cạn khô.
Chứng kiến đến đây, tôi nghĩ mình đã có thể giải oan cho ve sầu được rồi. Điều tôi muốn phủ nhận không phải là việc chúng cất tiếng hát vang lừng, mà là chuyện chúng đi xin ăn lũ kiến. Câu chuyện ngụ ngôn này ở một góc độ nào đó là vô cùng hoang đường. Phần lớn thời gian ve sầu và kiến chẳng hề dính dáng gì đến nhau, cho dù có đi chăng nữa thì cũng không giống như ngụ ngôn kể lại, rằng ve sầu với dáng vẻ hèn mọn đi van xin loài kiến, để rồi kiến chẳng mảy may động lòng trắc ẩn trước kẻ đáng thương trước mắt, buông lời mỉa mai cay độc rồi đuổi nó ra khỏi cửa. Thậm chí sự thật hoàn toàn ngược lại, hai hình tượng trong ngụ ngôn ở ngoài đời thực đã bị đảo lộn hoàn toàn. Kẻ khép nép van xin thức ăn trong ngụ ngôn nay lại trở thành người khai phá tự lực cánh sinh, còn kẻ hống hách chế giễu kẻ khác trong ngụ ngôn giờ đây lại hóa thành loài cướp bóc trơ tráo, điều này quả thực có quá nhiều người chưa từng hay biết. Tệ hơn nữa là lũ cướp bóc này sau khi ngang nhiên vơ vét lại chẳng hề có lấy một chút lòng biết ơn. Suốt cả mùa hè, ve sầu sau khi nhọc nhằn thoát ra khỏi lớp vỏ cứng của mình chỉ có vỏn vẹn năm sáu tuần vui vầy náo nhiệt, thời gian trôi qua, sinh mệnh của nó cơ bản cũng chấm dứt. Từ trên cây rơi xuống, sinh linh chẳng còn chút sức sống sẽ nhanh chóng biến thành xác khô dưới ánh mặt trời, lúc này kẻ đến rỉa rói thi thể của chúng chính là đám cướp bóc vô liêm sỉ trước kia. Đôi khi điều khiến người ta cảm thấy loài kiến tàn nhẫn hơn cả là có những con ve chỉ mới suy kiệt dần dấu hiệu sinh tồn rồi rơi xuống cành cây chứ chưa hề chết hẳn, lúc ấy kiến vẫn nhẫn tâm phanh thây chúng ra. Thậm chí có lúc tôi còn nhìn thấy đôi cánh của nó vẫn khẽ run rẩy, thế nhưng kiến vẫn chẳng chút nương tình mà tha nó về phía cửa tổ. Lúc này ắt hẳn nó phải đau lòng lắm, từng chẳng hề so đo mà chia sẻ dòng nước ngọt róc rách cho chúng uống, nay lại rơi vào kết cục bị phanh thây xẻ thịt khi còn sống sờ sờ.
Từng có một thi nhân hết lời ca tụng loài ve trong thơ của mình, người đó chính là Anacréon, kẻ được mệnh danh là “Béranger của Hy Lạp”. Trong mắt ông, ve sầu là sinh vật sinh ra từ bùn đất, không có máu mủ và cũng chẳng biết đau đớn. Xin hãy lượng thứ cho sự miêu tả thiếu tính khoa học ấy của ông, trước hết ông không phải là một nhà khoa học cẩn trọng, không nhìn nhận côn trùng dưới góc độ khoa học cũng là điều dễ hiểu. Thứ hai, quan niệm này của ông là thuận theo truyền thống, cách nói về loài ve như thế rất có thể đã tồn tại từ trước khi ông chào đời. Đương nhiên, tôi cũng biết có những vần thơ miêu tả về ve sầu rất chân thực và đậm chất khoa học, cũng là một bài thơ ca ngợi loài ve. Bài thơ được sáng tác bằng tiếng Phổ La Vượng Tư, tôi đã dịch nó sang tiếng Pháp mà không làm biến đổi ý tứ ban đầu, bởi không phải từ ngữ tiếng Phổ La Vượng Tư nào cũng có thể tìm được từ tương đương trong tiếng Pháp.
Ve sầu và kiến
I
Chúa tôi ơi, trời nóng quá chừng! Nhưng với ve sầu lại là chuyện tốt.
Nó phấn khích đến tột cùng, thỏa thuê tận hưởng dưới ánh mặt trời.
Nắng gắt tựa cầu lửa nung nấu, một mùa bội thu sắp sửa tới rồi!
Trong những làn sóng lúa mì vàng óng ả, những người lao động
Đang đổ mồ hôi sôi nước mắt, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, thế gian lặng ngắt như tờ:
Cổ họng như bốc cháy đã bóp nghẹt tiếng ca của họ trước tiên.
Nhưng hỡi những chú ve đáng yêu, các ngươi chẳng sợ mùa hè oi ả, cứ mặc sức cất cao giọng
Để tiếng ca của các ngươi vang rền.
Thỏa sức lắc lư chiếc bụng, ưỡn căng thân mình.
Người người trên đồng vung lưỡi liềm,
Lưỡi hái lượn tới lượn lui, lưỡi dao
Cũng lấp lánh ánh quang trong sóng lúa vàng ươm.
Những người gặt lúa đeo bình nước nhỏ bên hông,
Nước đổ đầy ắp, nút chặt bằng nắm cỏ.
Lúc này kẻ duy nhất không cảm thấy oi bức là hòn đá mài, nằm lặng lẽ trong chiếc hộp gỗ,
Thỉnh thoảng còn được uống nước thỏa thuê;
Còn những người lao động lại thở dốc dưới ánh mặt trời gay gắt,
Hơi nóng dường như sắp ăn sâu vào tận xương tủy.
Nhưng ve sầu lại có cách giải nhiệt của riêng mình, ngươi cắm chiếc vòi nhỏ của mình vào
vào lớp vỏ cây non mọng nước,
khoan một giếng nhỏ,
dòng suối ngọt từ chiếc vòi mảnh khảnh tuôn trào.
Bấy giờ ngươi mới chong chong ghé lại,
bắt đầu tận hưởng dòng suối ngọt mát lạnh giữa trưa hè.
Nhưng nào có chuyện gì hoàn mỹ đến thế, tuyệt đối không! Bởi lũ cướp
đang rình rập quanh ngươi, lũ trôi dạt tới chốn này,
thấy ngươi thỏa thuê uống suối ngọt, liền vội vã ùa sang
đòi hưởng ké dòng nhựa ngọt ngào.
Ngươi phải coi chừng, chúng là lũ cướp khố rách áo ôm,
khiêm nhường chỉ là giả vờ, thoắt cái bản chất lưu manh sẽ lộ ra ngay.
Từ chỗ chỉ cầu giải khát, đến đòi hỏi đôi chút thỏa mãn,
rồi ngang nhiên ngẩng đầu lên
đòi chiếm trọn tất cả. Chúng dùng móng vuốt sắc nhọn
bắt đầu cào xé cánh ngươi,
thậm chí cưỡi lên cả mình ngươi;
chặn miệng, giẫm chân, rồi giật ngược râu ngươi về phía sau.
Cả bầy giặc cướp lộng hành đến thế, rốt cuộc ngươi cũng chẳng buồn nhọc lòng đôi co.
Thế nhưng ngươi bực mình tè một bãi vào mặt chúng,
rồi bay vút đi thật xa,
mặc kệ lũ trộm nước trơ trẽn ấy.
Chúng cười nói cợt nhả, rượt đuổi đùa giỡn,
quanh mép vẫn còn vương dòng nhựa ngọt.
Trong đám trộm cắp chuyên nẫng tay trên thành quả lao động của kẻ khác,
kẻ được đằng chân lân đằng đầu nhất chính là loài kiến.
Ruồi, ong bắp cày viền vàng, ong vò vẽ, bọ hung,
thảy đều là những phần tử đạo tặc,
dưới mặt trời tựa cầu lửa lén mò tới miệng giếng của ngươi giải khát,
nhưng riêng lũ kiến lại muốn chiếm tổ cướp nhà.
Chúng giẫm chân, đè mặt,
thọc vào mũi ngươi,
dở đủ trò lưu manh chỉ để xua đuổi ngươi đi.
Thậm chí còn bám chân ngươi trèo lên,
ngang nhiên bò qua đôi cánh,
cố tình đi đi lại lại để chọc tức ngươi.
Hai
Lời người xưa kể hóa ra chẳng hề đúng.
Bởi họ rêu rao rằng,
vào mùa đông ngươi chịu đói chịu rét, phải khúm núm hạ mình,
lặng lẽ tìm đến
căn hầm chứa đầy lương thực của loài kiến.
Biết bao hạt lúa mì chưa kịp đưa vào bồ,
vì đẫm sương đêm,
nay được phơi dưới nắng và liên tục đảo qua đảo lại,
đợi đến khi khô ráo mới gom cất.
Đúng lúc ấy ngươi đột ngột ghé thăm, nước mắt lưng tròng.
Ngươi thưa với kiến: “Trời lạnh quá chừng, gió bấc
gào rú thét gào, tôi sắp chết đói rồi.
Xin các người từ kho thóc khổng lồ kia
chia cho tôi một túi nhỏ.
Đến mùa thu hoạch sau, tôi nhất định sẽ đền bồi.”
“Cho tôi mượn chút lương thực”, hay là ngươi nên quay đầu bước đi thì hơn,
bởi chúng căn bản chẳng mảy may đoái hoài sống chết của ngươi đâu,
đừng tự dối mình nữa, trong cả kho lương đầy ắp ấy,
ngươi đừng hòng xin nổi dẫu chỉ một hạt tấm.
“Cút đi, về mà cạo vét đáy thùng nhà ngươi;
Mùa hè ngươi ca hát vang lừng thế cơ mà, mùa đông chết đói cũng đáng đời!”
Tình tiết trong truyện ngụ ngôn vốn là như thế,
để dạy chúng ta noi gương phường keo kiệt bủn xỉn,
hả hê bo bo giữ chặt miếng ăn của mình
… còn lũ ngốc chỉ biết ca hát
cũng phải nếm mùi quả báo ra sao!
Những câu chuyện ngụ ngôn ấy khiến tôi vô cùng phẫn nộ,
bởi chúng bịa rằng ngươi đi ăn xin lương thực vào mùa đông,
nhưng ruồi muỗi, sâu bọ hay hạt lúa mì xưa nay chưa từng có tên trong thực đơn của ngươi.
Hạt lúa mì! Ngươi cần thứ ấy làm chi?
Khi kẻ khác bụng đói cồn cào thì ngươi tự khoan giếng cũng đã đủ no nê rồi.
Trong thế giới của ngươi vốn làm gì có mùa đông, khi ấy con cháu ngươi
còn đang say giấc nồng,
còn ngươi cũng đã chìm vào giấc ngủ ngàn thu, chẳng bao giờ tỉnh lại.
Xác ve vỡ vụn dưới ánh mặt trời, rụng rơi đầy đất,
cho tới khi lọt vào mắt lũ kiến quen thói cướp giật bốn phương.
Bên lớp xác ve đã khô quắt queo,
chúng xông vào tranh giành chí mạng;
khoét rỗng lồng ngực, phanh thây xé xác ngươi,
rồi tha về bồ chứa như mớ thịt ướp muối.
Đấy mới chính là nguồn lương thực béo bở cho mùa đông của chúng.
Ba
Đây mới là sự thật trần trụi,
hoàn toàn khác hẳn với những gì chúng ta từng nghe.
Lũ kiến đáng ghét giờ đây còn nghĩ ngợi được gì?
Cái giống quen thói trộm cắp,
tiện tay dắt dê, bụng phệ thây lười,
ngỡ rằng cứ tích trữ là có thể xưng hùng xưng bá.
Các ngươi lại còn trơ trẽn rêu rao,
rằng ve sầu xưa nay chẳng chịu nhọc công làm lụng,
thế nên để chúng chịu chút khổ sở cũng là lẽ đương nhiên.
Đừng bôi nhọ kẻ khác nữa,
ve sầu cất công khoan vỏ cây chắt lấy dòng nhựa ngọt,
các ngươi cướp giật đã đành, nay nó chết rồi,
các ngươi lại còn dã tâm độc địa đến nhường này.
Bài thơ này nghe qua tuy mộc mạc, thậm chí có phần nôm na trần tục, nhưng người bạn của tôi đã dùng chính lối văn sảng khoái ấy để rửa sạch nỗi oan khuất bao năm trời cho những sinh linh bé nhỏ.
