Chương 714
Chương 714: Đất long hưng, kim định bàn
Đăng ngày 30/09/2026
19
Dẫu Chu Môn Trấn vô cùng náo nhiệt, Chu Môn Thôn vẫn giữ được vẻ thanh tịnh như mọi khi.
Chu gia có tầm ảnh hưởng cực lớn tại Kim Lăng, người trong võ lâm lại hết sức kính trọng Chu Khiếu Uyên, chẳng ai dám tới quấy rầy ông cụ.
Ngay cả những bậc Tông Sư cũng chỉ dám tới bái phỏng một lần rồi cáo lui.
Thế nhưng có một ngoại lệ, đó là Tiêu Sanh, người được Chu Khiếu Uyên giữ lại trong nhà.
Ban đầu Tiêu Sanh tới là để nói đỡ cho Lý Mộc Trần, vì ông cứ ngỡ Chu Khiếu Uyên thực sự muốn hiệu triệu cả võ lâm để đối phó với hắn.
Chu Khiếu Uyên thoạt đầu cũng chưa nắm rõ mối quan hệ giữa Tiêu Sanh và Lý Mộc Trần nên không dám nói thật, hai người suýt chút nữa đã ra tay đánh nhau.
May mà cả hai đều là đỉnh phong võ đạo, tu dưỡng tâm tính hơn trăm năm, không còn tính khí xốc nổi như lớp trẻ, cuối cùng cũng giải thích rõ ràng mọi chuyện.
Thế là Chu Khiếu Uyên giữ Tiêu Sanh ở lại nhà.
Nam Chu Bắc Tiêu cùng chung một mái nhà, chuyện trò vui vẻ, cũng xem như một giai thoại đẹp trong chốn võ lâm thiên hạ.
Khi Lý Mộc Trần tới Chu Môn Thôn, nghe Bách Phú Minh kể lại đoạn này, trong lòng không khỏi xúc động.
Hỏi thăm tin tức về Đồng Hạo, Chu Khiếu Uyên lắc đầu: “Những người tới Chu Môn Trấn chúng ta đều đã điều tra, tạm thời chưa phát hiện tung tích của Đồng Hạo.”
Tiêu Sanh tiếp lời: “Đồng Hạo hoành hành trăm năm, tu vi cực cao, nếu hắn cố tình giấu tung tích thì chẳng ai trong chúng ta tìm ra được.”
Chu Khiếu Uyên gật đầu: “Tôi cũng tin là hắn đã tới. Không chỉ vì Mộc Trần, việc Huyền Vũ bí cảnh mở ra chắc chắn không thể thiếu sức hút với một đại ma đầu như hắn.”
Lý Mộc Trần hỏi: “Cháu ở ngoài trấn cũng nghe người ta bàn tán về Huyền Vũ bí cảnh, rốt cuộc chuyện đó là thế nào ạ?”
Chu Khiếu Uyên đáp: “Thật ra cũng chẳng phải bí mật gì to tát, cái gọi là Huyền Vũ bí cảnh chẳng qua là nơi Sở vương chôn vàng năm xưa, có tìm được thì cũng chỉ là một đống tiền của mà thôi.”
“Sở vương chôn vàng?” Lý Mộc Trần chưa hiểu rõ.
Lâm Mạn Khanh giải thích: “Thời Xuân Thu, Sở Uy Vương phạt Ngô Việt, thấy nơi này vương khí quá thịnh, có tướng rồng bay lên, mà Thanh Long thuộc Mộc, chỉ có Kim mới khắc được Mộc, nên ông ta bèn sai người chôn vàng xuống lòng đất để cắt đứt long mạch. Đây cũng chính là nguồn gốc của cái tên ‘Kim Lăng’.”
Chu Khiếu Uyên mỉm cười gật đầu: “Mạn Khanh quả nhiên hiểu rộng, nói không sai chút nào. Kim Lăng là nơi tụ hội của long mạch, nhưng các triều đại định đô tại đây đều đoản mệnh. Đông Ngô sáu mươi chín năm, Đông Tấn trăm năm, Nam triều Tống Tề Lương Trần cộng lại được trăm bảy mươi năm, bình quân mỗi triều chỉ vỏn vẹn bốn mươi năm. Đại Minh cũng chỉ bốn mươi năm là dời đô lên phía bắc, Thái Bình Thiên Quốc được chín năm, triều trước cũng chỉ ở đây hai mươi hai năm. Dân gian tương truyền, hết thảy đều do Sở vương chôn vàng cắt đứt long mạch mà ra.”
“Năm xưa tiên tổ nhà tôi khai sáng thịnh thế Hồng Vũ, định đô ở Kim Lăng, Lưu Bá Ôn từng khuyên Thái Tổ dời đô, nguyên do là vương khí Kim Lăng không vững, cứ năm mươi năm ắt có biến cố lớn. Thái Tổ bèn sai người đào bới khắp Kim Lăng mà không tìm ra nơi Sở vương chôn vàng, từ đó sinh lòng nghi ngờ Lưu Cơ. Lưu Cơ bèn cáo quan về quê, an hưởng tuổi già nơi thôn dã.”
“Về sau Thái Tổ cho đại hưng thổ mộc, xây dựng tường thành nhằm tăng thêm vương khí cho Kim Lăng. Trước lúc lâm chung, người dặn dò con cháu, nếu sau năm mươi năm lập quốc mà thiên hạ vẫn thái bình thì hãy quật mộ Lưu Bá Ôn lên, quất roi vào thi thể ba ngày để sỉ nhục ông ta một trận.”
“Sau đó mọi sự quả đúng như Lưu Bá Ôn dự liệu, Đại Minh mới lập quốc chưa đầy bốn mươi năm đã xảy ra loạn Tĩnh Nan. Thành Tổ đăng cơ, sai người đào mộ Lưu Cơ lên, chỉ thấy trong mộ không có thi thể, mà chỉ có một chiếc la bàn cùng một phong tấu sớ, khuyên nên nhân lúc vương khí Kim Lăng chưa dứt hẳn mà dời đô lên phía bắc.”
“Thành Tổ nghe theo lời khuyên, dời đô về Yên Kinh, chỉ để lại một nhánh ở Kim Lăng, giữ chiếc la bàn ấy để truy tìm nơi Sở vương chôn vàng trong truyền thuyết. Nhánh con cháu đó chính là chúng tôi.”
Mọi người nghe được bí mật này đều hết sức kinh ngạc.
Thì ra Chu gia ở Kim Lăng ngày nay lại do Minh Thành Tổ lưu lại, chuyên phụ trách việc tìm kiếm bí cảnh. Hẳn năm xưa hoàng đế muốn tìm ra nơi Sở vương chôn vàng để đào số vàng đó lên, vừa thu được kho báu lại vừa nối lại long mạch, vẹn cả đôi đường, sau đó sẽ dời đô từ Yên Kinh về lại Kim Lăng, từ đó quốc thái dân an.
“Haiz, ai ngờ mấy trăm năm trôi qua, bãi bể nương dâu, tất cả đã trở thành dĩ vãng.” Chu Khiếu Uyên thở dài, “Thật ra vào thời tiền triều, chúng tôi từng có chút phát hiện, nơi Sở vương chôn vàng hẳn nằm quanh khu vực hồ Huyền Vũ và núi Tử Kim. Đó cũng là nguồn cơn của cái tên Huyền Vũ bí cảnh. Đáng tiếc sau đó chiến tranh liên miên, giang sơn rối ren, Chu gia cũng chao đảo theo thời cuộc, đâu còn tâm trí nào mà tìm kiếm bí cảnh. Quan trọng nhất là chiếc la bàn Lưu Bá Ôn để lại cũng đã thất lạc giữa làn khói lửa.”
“Vậy gần đây sao lại rộ lên tin đồn bí cảnh sắp mở ạ?” Lý Mộc Trần hỏi.
Chu Khiếu Uyên nói: “Bởi vì có mấy thuật sĩ am hiểu thuật vọng khí phong thủy đã nhìn thấy long khí Tử Kim, nghĩa là Kim Lăng lại bước vào thời kỳ vương khí hưng thịnh. Điều này khiến cho truyền thuyết về bí cảnh năm xưa lại bắt đầu râm ran trong chốn giang hồ.”
“Thêm nữa, chiếc la bàn năm đó của chúng tôi tuy mất, nhưng may mắn giữ lại được một cây kim định bàn trên đó. Chúng tôi bèn tìm thợ khéo, phỏng theo hình dáng chiếc la bàn Lưu Bá Ôn để lại mà làm một cái mới, rồi gắn kim định bàn vào. Dù không bằng một phần vạn chiếc cũ, nhưng kim định bàn đó vẫn chuyển động được, vô cùng nhạy cảm với sự biến đổi của địa khí xung quanh.”
“Dạo trước, kim la bàn cứ lắc lư không yên, tôi mang nó đi về hướng bắc, càng đến gần Chung Sơn thì phản ứng của kim càng mạnh, tới bờ hồ Huyền Vũ thì kim bắt đầu rung lên bần bật. Tiếc thay, la bàn không phải đồ nguyên bản nên chẳng thể định vị chính xác vị trí, càng không có cách nào biết được lối vào bí cảnh.”
Nói đoạn, Chu Khiếu Uyên bước tới két sắt trong thư phòng, lấy ra một chiếc la bàn đặt lên bàn.
Chỉ thấy mũi kim nơi thiên trì ở tâm la bàn vẫn đang không ngừng lay động.
Lý Mộc Trần vừa nhìn thấy chiếc la bàn thì thoáng ngẩn ra, cảm thấy vật này trông vô cùng quen mắt.
Chợt, hắn thò tay vào người rút ra một chiếc la bàn khác, đặt lên bàn.
Chiếc la bàn này trông gần như đúc cùng một khuôn với chiếc trên bàn, cách bài trí quẻ tượng và phương vị hai mươi tư sơn đều khác hẳn những loại la bàn thông thường ngoài thị trường.
Chỉ có điều, chiếc của Lý Mộc Trần trông cổ kính hơn nhiều, trên mặt bàn còn khắc một vòng phù chú khó hiểu.
Chu Khiếu Uyên kinh hãi thốt lên: “Đây... Đây là Lục Hư Luân Chuyển Bàn, sao lại ở chỗ cháu?”
Lâm Mạn Khanh cũng ngạc nhiên: “Đúng đấy Mộc Trần, em chưa từng thấy anh dùng la bàn bao giờ.”
Lý Mộc Trần cười nói: “Lúc mới tới Hòa Thành, vì kẹt tiền nên anh cùng anh Mã Sơn đến sòng của Phùng Nhị gia cược đá, tiện tay mua lại món này. Khi ấy chỉ biết đây là một pháp khí la bàn đã bị hư tổn đôi chút, anh mua về sửa sang lại rồi cất đó chứ chẳng để tâm, không ngờ nó lại có lai lịch lớn đến thế.”
Lâm Mạn Khanh cũng bật cười: “Hóa ra món tiền đầu tiên của anh kiếm được là từ chỗ đó!”
Lý Mộc Trần cười đáp: “Không kiếm thế thì anh chỉ còn nước sang nhà em ăn bám thôi. Khổ nỗi mẹ vợ đại nhân đâu có cho anh cơ hội ấy!”
Lâm Mạn Khanh khúc khích cười: “Nếu anh chịu bộc lộ bản lĩnh từ sớm thì mẹ em có cản nổi anh chắc?”
Chu Khiếu Uyên nhìn la bàn rồi nói: “Mộc Trần, xem ra chiếc la bàn này có duyên với cháu. Vương khí Kim Lăng, chẳng lẽ lại ứng lên người cháu sao?”
Lý Mộc Trần vội vàng xua tay: “Chu lão, người ngàn vạn lần đừng nói thế. Cháu xuống núi vốn là để dứt bỏ trần duyên, ai ngờ càng lúc càng lún sâu, bụi trần này đã khó dứt ra rồi, nếu lại dính dáng tới vương khí gì đó thì đúng là khổ hải vô biên.”
Chu Khiếu Uyên cười lớn: “Mộc Trần à, duyên phận là thứ đâu do mình quyết định, một khi nó đã tới thì cháu có muốn trốn cũng chẳng trốn nổi đâu!”
