Chương 66
Chương 66: Say khêu đèn ngắm kiếm, mộng về tiếng tù và liên doanh
Đăng ngày 29/09/2026
19
Nghe câu đó, nụ cười trên mặt tôi hơi cứng lại: "Cái... cái gì cơ? Không phải thầy chữa khỏi cho ông nội rồi sao? Lúc con đi, thấy người ông đâu có vấn đề gì?"
"Dương thọ của ông ấy đã tận, đó là thiên ý. Ngay cả ta cũng chỉ có thể kéo dài mạng sống cho ông ấy thêm chừng nửa tháng. Dù sao chuyến đi lần này cũng rất quan trọng với con, nên ta mới không nói."
Hốc mắt tôi đỏ bừng ngay tức khắc.
Ông là người lính bảo vệ tổ quốc. Năm 1937, khi giặc Nhật xâm lược Trung Hoa, ông đang ở tận Quảng Nguyên nghe được tin này.
Mang theo thanh Đường đao, ông dứt khoát gia nhập đoàn quân tráng sĩ rời đất Thục ra tiền tuyến.
Dù chỉ là một kẻ áo vải, ông cũng có khí phách dám đổ máu năm bước.
Năm 1950, quân Mỹ can thiệp vào Triều Tiên. Để bảo vệ đất nước, dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Bành Đức Hoài, ông một lần nữa vượt sông Áp Lục, đối đầu với quốc gia mạnh nhất thế giới bấy giờ.
Chiến dịch Đài Nhi Trang, chiến dịch Bình Hình Quan, trận Bách Đoàn, chiến dịch Liêu Thẩm, chiến dịch Hoài Hải, chiến dịch Thượng Cam Lĩnh…
Từng trận đánh ấy đều là chiến công cả đời ông, cớ sao ông lại đi sớm thế này…
Tôi đâu còn bụng dạ nào ở lại đây nữa, vội vàng theo thầy lao về nhà.
Ngồi trên xe, nghĩ đến cảnh ông nội sắp qua đời, tôi đã khóc nghẹn ngào không thành tiếng.
Khóc mãi, đau đớn quá mức đè nặng trong lòng, tôi ngất lịm đi.
Đến khi tỉnh lại, chẳng hiểu bằng cách nào, tôi đã đứng ngoài cổng làng.
Tôi ngoái lại nhìn, ngoài vệt tà dương đỏ quạch như máu ở chân trời xa thì chẳng còn ai khác.
Tôi hoang mang: "Thế này là sao? Thầy đâu rồi?"
Ngay lúc tôi đang nghi hoặc, đột nhiên thấy ở đầu làng có người vẫy tay gọi mình!
Nhìn kỹ lại, người đó không phải ai khác, chính là ông nội tôi!
"Ông nội!"
Thấy ông vẫn đứng sừng sững vững vàng, tôi mừng phát khóc.
Ông nội không sao cả!
Tôi gào lên một tiếng, rảo bước lao về phía ông, nhào thẳng vào lòng ông.
Ông nội hiền từ xoa đầu tôi, cười khà khà: "Cửu Oa, sao thế? Khóc cái gì?"
Tôi ngẩng đầu quệt nước mắt: "Thầy bảo… bảo ông sắp không qua khỏi, hóa ra thầy lừa con, làm con sợ chết khiếp!"
"Ủa? Sao hôm nay ông lại mặc bộ quân phục Hồng quân này thế? Còn sau lưng ông nữa… ở đâu ra con ngựa trắng kia vậy?"
Ông nội có một bộ quân phục, kiểu áo Hồng quân cũ giống trên ti vi, cất mãi trong tủ. Đó là thứ ông trân quý nhất, ngày thường chẳng nỡ mặc vì sợ làm việc đồng áng sẽ rách, sao hôm nay lại đem ra mặc?
Đã vậy sau lưng ông còn dắt theo một con tuấn mã màu trắng cực kỳ cao lớn vạm vỡ. Đây tuyệt đối không phải ngựa thường, hẳn là một con chiến mã!
Không những thế, trên vai ông còn khoác một khẩu súng trường Ba Tám. Khẩu súng này từ đâu ra nữa?
Ánh hoàng hôn rọi lên gương mặt ông, trông rạng rỡ lạ thường.
Ông nhìn tôi, mỉm cười: "Hôm nay à, phải mặc chứ. Ngày trước ông ở đại đội kỵ binh, con chiến mã này là người anh em cũ đấy. Ha ha, mãi đến hôm nay ông mới biết, người anh em này chưa từng rời xa ông."
Nói xong, nét mặt ông thoáng lộ vẻ xót xa, đưa tay xoa đầu tôi.
"Đời này của ông sống vẻ vang lắm. Nếu được, ông thật lòng muốn thấy con đỗ đại học, thấy con dựng vợ gả chồng, tận mắt nhìn thằng nhãi ranh nhà con lớn khôn từng ngày."
"Nhưng giờ ông phải đi rồi. Sau này nhớ theo thầy Lý học hành cho tốt, phải hiếu thảo với bố mẹ, làm một người tử tế, nghe chưa?"
Dứt lời, ông thoắt cái nhảy lên lưng ngựa.
Thấy cảnh tượng này, tôi lập tức nhận ra điểm bất thường, vội túm lấy dây cương định cản ông lại.
Tôi dồn dập hỏi: "Ông… ông định đi đâu? Khi… khi nào ông về?"
"Cửu Oa, anh em đợi ông lâu lắm rồi. Đừng đau lòng, cũng đừng buồn. Sinh lão bệnh tử vốn là lẽ thường ở đời, sứ mệnh kiếp này của ông đã xong, cũng đến lúc phải đi rồi."
Đôi mắt ông nhìn thẳng về vệt tà dương nơi chân trời, ánh mắt chất chứa bao thăng trầm nửa đời người.
Khoảnh khắc sau, khí phách ông ngút trời, cất tiếng cười vang.
"Say chong đèn ngắm kiếm, mộng về rền tù và liên doanh. Nửa đời lăn lộn trong khói lửa, để lại một đời anh danh. Lãng Kiến Thuật ta, không thẹn với non sông!"
"Ông nội! Ông đừng đi! Con xin ông, ông đừng đi mà!"
Nước mắt tôi lại nhòa đi. Dù tôi có giật dây cương thế nào, con tuấn mã dưới sự điều khiển của ông vẫn cất bước hướng ra ngoài làng.
Ngoài cổng làng lúc này cũng xuất hiện một toán chiến sĩ Hồng quân mặc quân phục y hệt ông.
Đến khi ông nhập vào cùng họ, dung mạo bỗng chốc trẻ lại, biến thành dáng vẻ thiếu niên ngây ngô lúc mới tòng quân.
Cả đám người hồ hởi vỗ vai ông, vừa đi vừa nói cười rôm rả.
Tựa như… họ lại quay về những năm tháng chiến tranh rực lửa của năm 1937.
"Đao lớn! Chém thẳng vào đầu lũ giặc…"
Từng khúc ca vang dội cất lên, tức thì rền vang khắp núi đồi đồng nội.
Đoàn người thúc ngựa lao đi, tà dương đỏ như máu soi rọi lối đi phía trước.
Họ men theo dãy núi xa xăm rồi phi nước đại biến mất.
Thời đất nước ngả nghiêng, họ từ đồng nội bước ra; buổi thiên hạ thái bình… sau cùng lại về với đồng nội.
Tiếng hát vang dội dần tan biến bên tai tôi.
Tôi đứng chết lặng ở đầu làng.
Cuộc đời của ông nội, cũng đến đây là đặt một dấu chấm hết.
"Cửu Oa, tới nơi rồi, dậy đi!"
Đúng lúc này, thầy lay vai tôi. Tôi chớp đôi mắt đẫm lệ nhìn quanh, bấy giờ mới nhận ra mình vẫn đang ngồi trong xe.
Nhưng tôi biết, ông nội đã thật sự đến tìm, ông chỉ muốn nói lời từ biệt với tôi.
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nếm trải nỗi đau sinh ly tử biệt. Thân thể không mang một vết thương, nhưng lại buốt nhói như róc xương nạo tủy.
Tôi nhảy xuống xe, cắm đầu chạy thục mạng về nhà.
Về đến làng, tôi đã thấy nét mặt bà con lối xóm ai nấy đều trĩu nặng.
Chạy đến trước cửa nhà, vòng hoa tang đã treo ngoài hiên, trong nhà không ngừng vọng ra tiếng than khóc của bố mẹ tôi.
Tôi lảo đảo bước vào trong. Giữa gian nhà chính, có một người đang nằm dưới tấm vải trắng.
Khoảnh khắc ấy, tôi không kìm nén nổi nữa, ngã gục xuống ngất lịm đi.
Vì sự ra đi của ông, tôi ốm liệt giường một trận thập tử nhất sinh, thậm chí chẳng kịp chịu tang, nằm bẹp trên giường suốt nửa tháng trời.
Mãi đến nửa tháng sau, tôi mới gượng dậy tấm thân bệnh tật, đến trước mộ ông thắp hương dập đầu.
Lần này tôi bình thản hơn nhiều, không còn khóc nữa.
Người đã khuất, cuộc sống vẫn phải tiếp diễn. Đời người nói cho cùng, chẳng phải từ lúc cất tiếng khóc chào đời thấy nụ cười của cha mẹ, đã luôn lặp đi lặp lại những cuộc hội ngộ và chia ly hay sao?
Trường học đã vào kỳ mới. Bệnh tình đỡ đi phần nào, tôi liền quay lại trường.
Vẫn như trước, tôi đi học về trong ngày, các bài rèn luyện vẫn tiếp tục. Vì dạo này tâm trạng tôi suy sụp, thầy đối xử với tôi dịu dàng lạ thường, cơm nước việc vặt đều một tay thầy làm, điều đó cũng khiến lòng tôi được an ủi đôi chút.
Cho đến ngày nghỉ lễ hôm ấy.
Tôi về lại căn nhà gỗ trong rừng trúc. Thầy vừa rít thuốc lá, vừa nhẹ nhàng hỏi: "Cửu Oa à, tâm trạng chắc đã khá hơn rồi chứ?"
Thấy thầy quan tâm mình như vậy, lòng tôi ấm lại: "Cảm ơn thầy đã lo cho con, trong lòng con đỡ nhiều rồi ạ."
Thầy gật đầu, sau đó vứt mẩu thuốc đi, rút ra một sợi dây thừng từ sau lưng. Đầu dây đã thắt sẵn một chiếc thòng lọng, thấy thế tôi hỏi: "Thầy làm gì vậy ạ?"
"Con đưa hai tay vào đây trước đã, lát nữa ta nói cho nghe."
Tôi chẳng hiểu mô tê gì nhưng vẫn gật đầu làm theo. Rất nhanh sau đó, tôi bị trói nghiến hai tay như một phạm nhân.
Nhìn ánh mắt thầy chuyển dần từ dịu dàng sang giận dữ, tôi lập tức thấy có điềm chẳng lành!
Nhưng lúc này đã không kịp nữa rồi!
Trong chớp mắt, thầy đã quăng đầu dây qua xà nhà, kéo bổng tôi treo lơ lửng lên.
"Thầy, thầy làm gì thế?"
"Mẹ kiếp, làm gì à? Mấy bữa nay đêm nào tao nằm mơ cũng thấy đang quất mày! Gần đây tao ngứa tay muốn đánh mày đến phát điên lên rồi con có biết không? Dám cả gan đi giết người!"
"Giờ tâm trạng mày đã khá hơn rồi thì tao chẳng cần kiêng dè gì nữa. Đến lúc tính sổ món nợ mày giết người ở Quảng Nguyên rồi đấy!"
