Chương 702
Chương 702: Quyển 28: Đến huyện Dung Giang
Đăng ngày 30/09/2026
19
Nghe chuyện rùng rợn, bí ẩn từng xảy ra trong con mương núi đó, tôi ngậm điếu thuốc bên khóe miệng, trầm ngâm hồi lâu.
"Nên là, hai cậu tuyệt đối đừng đụng vào thứ gì trong mương đó, có ngày bục ruột nát gan, hối cũng không kịp."
Tôi gật đầu: "Cháu biết rồi."
Chuyện đêm đó đến đây coi như xong. Hút cạn điếu thuốc, tôi quay về phòng ngủ.
Sau vụ tối qua, sáng hôm sau Lý Đại Phú dậy sớm nhưng mặt mày vẫn bơ phờ.
Dù vậy, để làm rõ chuyện Na Thần trên Trư Nhi Sơn, sáng ra hắn vẫn theo tôi đi chợ phiên.
Đây là một thôn núi heo hút, đường vào huyện Dung Giang phải đi qua một đoạn đường núi rất dài.
Thời này, dân quê đi chợ phiên nếu không đi bộ gùi đồ dùng sinh hoạt trên lưng, thì khá hơn chút là dắt theo gia súc.
Nơi này cách huyện Dung Giang ít nhất cũng mười mấy hai mươi dặm đường núi. Chúng tôi không muốn lội bộ nên bỏ tiền thuê một con la thồ vào trấn.
Huyện lỵ không lớn, quy hoạch cũ kỹ, mang tiếng là huyện thành nhưng trông chẳng khác gì thị trấn cỡ lớn.
Chúng tôi dắt la qua mấy con phố ồn ào xập xệ, chẳng mấy chốc đã đến đồn cảnh sát địa phương.
Tôi dĩ nhiên không thể ra lệnh cho chính quyền nơi đây. Quan càng xa kinh thành thì càng khó nhai, mới bước vào chưa nói được mấy câu đã bị người bên trong đuổi thẳng cổ.
Hết cách, tôi gọi điện cho Tôn Vân nhờ ông ta bắn chỉ thị xuống. Sau khi đả thông các tầng quan hệ, đám cảnh sát sở tại mới chịu hết lòng phối hợp.
May mà đồn cảnh sát ở đây có lưu trữ sổ hộ tịch đầy đủ của thôn Trư Nhi.
Không lâu sau, viên đồn trưởng bước vào với vẻ mặt cung kính.
"Cậu Lãng này, bên tôi đã tra soát kỹ càng rồi. Hai mươi năm trước, người trong thôn đó đều mất tích sạch. Đúng là không có ai lấy chồng thiên hạ, bởi thôn này là một bản Sinh Miêu. Bản Miêu kiểu này đời đời kiếp kiếp sống biệt lập, hầu như không qua lại với bên ngoài."
Nghe vậy, tôi liền cau mày: "Hóa ra là một bản Sinh Miêu."
Đúng lúc tôi ngỡ manh mối đã đứt đoạn, viên đồn trưởng bỗng bồi thêm một câu:
"Có điều... đúng là còn một người thôn Trư Nhi còn sống, nhưng... e là không thể nào tìm ra."
"Sao lại thế?"
"Vì đó là một tên giết người. Năm ấy chẳng rõ vì cớ gì, gã giết một người trong thôn rồi bỏ trốn, tới giờ vẫn bặt vô âm tín."
Một tên giết người lẩn trốn suốt hai mươi năm, ở cái thời mà giết người xong chỉ cần trốn chui trốn lủi một độ là thoát tội, muốn tìm ra gã gần như là chuyện viển vông.
Tôi ngẫm nghĩ rồi hỏi tiếp: "Cả thôn Trư Nhi đột ngột mất tích, hồi đó bên đồn có vào xem thử không?"
Đồn trưởng gật đầu: "Xảy ra chuyện nghiêm trọng đến mức ấy thì đâu tới lượt cảnh sát chúng tôi xử lý. Hồi đó chúng tôi báo lên cấp trên, bên trên điều một đội quân vào núi kiểm tra. Nhưng ngần ấy con người cứ như bốc hơi vào không khí, trong thôn cũng chẳng có vết tích giằng co ẩu đả. Hồi đó bộ đội lật tung cả quả núi lên mà không tìm thấy nổi một cái xác."
Nghe đồn trưởng thuật lại chuyện ma quái hai mươi năm trước, tôi lại hỏi: "Bên anh có ghi lại địa chỉ đến thôn Trư Nhi không?"
"Cái này lưu hồ sơ chắc chắn có chứ. Cậu Lãng đợi chút, tôi đi lấy ngay cho cậu."
Đợi chừng tàn nửa điếu thuốc, viên đồn trưởng mang toàn bộ hồ sơ về thôn Trư Nhi photo cho tôi một bản.
Nhưng ngoài một cái địa chỉ, quả thật chẳng có thông tin gì giá trị.
Những bản Sinh Miêu thế này vốn không giao tiếp với bên ngoài, lại để tránh rắc rối sắc tộc không cần thiết, việc nới lỏng hoặc không can thiệp sâu gần như là quy tắc bất thành văn của chính quyền.
Thành ra ở những bản như vậy, trưởng bản coi như vua một cõi, đồn cảnh sát địa phương ít tư liệu cũng là chuyện thường tình.
Nhận hồ sơ xong, tôi cùng Lý Đại Phú kiếm quán ăn tạm ở thị trấn, lúc này bóng chiều đã ngả về tây.
Tính toán một hồi, hai đứa quyết định ngủ lại huyện thành một đêm.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lại cỡi la quay về thôn.
Nhưng vừa dắt la về đến nhà ông Vương, thấy ông lão ngồi trên chiếc ghế đẩu với gương mặt rầu rĩ, tôi liền nhận ra có điều chẳng lành.
"Sao thế ông? Lại có người chết ạ?"
Ông Vương liếc nhìn tôi, đoạn gật đầu: "Thứ đó hung tợn quá. Đứa bé nhà họ Lý đầu thôn, đêm chui tọt vào trong hòm ngủ mà vẫn bị ăn thịt, nó tha cả cái hòm đi luôn."
"Lúc chúng tôi... tìm được, cái đầu đứa nhỏ đã... hu hu!"
Nói đến đây, ông Vương không kìm được bật khóc nức nở.
Nghe vậy, tim tôi thắt lại. Chiếc hòm đựng lương thực ở nông thôn nhẹ nhất cũng phải hơn trăm cân, thế mà bị khiêng đi nhanh gọn vậy sao?
"Thế này... nếu không trừ khử cái thứ hại người kia cho sớm, thì cả vùng này chắc chẳng ai sống nổi nữa."
Tôi buông một câu rồi sải bước ra ngoài.
Ra đến ngoài sân, tôi châm điếu thuốc. Lý Đại Phú nheo mắt nhìn về phía vầng thái dương rồi hỏi: "Giờ tính sao?"
Tôi trầm ngâm: "Thứ này hình như chỉ nhắm vào con nít. Rốt cuộc nó là cái giống gì không biết?"
"Hay là kiếm đứa con nít làm mồi nhử?"
Nghe Lý Đại Phú nói thế, tôi gạt đi: "Con cái là khúc ruột của cha mẹ, ai đời người ta chịu để con mình liều mạng?"
Hắn thở dài: "Haiz! Thế thì chịu rồi."
Im lặng trôi qua mười mấy giây, thấy tôi không lên tiếng, Lý Đại Phú bèn quay sang nhìn tôi.
Thấy tôi cứ nhìn chằm chằm vào mình bằng ánh mắt không thể quen thuộc hơn, hắn lập tức lùi lại mấy bước.
"Mày đừng bảo lại tính lôi tao ra chịu trận đấy nhé? Mẹ kiếp, tao hơn hai mươi tuổi đầu rồi, ma nó cũng chẳng thèm."
Tôi cười bảo: "Được chứ sao không. Mày vẫn còn là trai tân, tao can thiệp một chút là có tác dụng ngay."
Nghe vậy, Lý Đại Phú trố mắt nhìn tôi: "Tao với chị Hồ Tiên đã trải qua bao nhiêu lần giao hòa sâu sắc cả về thể xác lẫn linh hồn rồi, trai tân cái đách."
Tôi nhếch mép: "Nói thế không đúng. Phải giữa người với người mới tính là mất 'zin', mày với hồ ly thì không tính, nên Đại Phú à, mày vẫn rặt một thằng trai tân."
Trò lấy Lý Đại Phú làm mồi nhử này bao năm qua làm hoài, rốt cuộc hắn vẫn hậm hực gật đầu chịu trận.
Sau đó, ánh mắt tôi hướng sang nhà hàng xóm của ông Vương, tức người phụ nữ tên Tô Tình.
Lúc này chị ta đang bưng bát ngồi ăn cơm giữa sân, mắt dán chặt vào hai đứa bé trai đang nô đùa.
Nhà vắng bóng đàn ông, một thân phụ nữ gánh gồng cả cơ nghiệp. Sự đày đọa của năm tháng khiến chị ta dù chỉ mới ngoài hai mươi, nhưng nét mặt lại toát lên vẻ tê dại, đờ đẫn đến cùng cực.
Đôi mắt vô hồn ngồi dưới nắng, chỉ biết nhìn hai đứa nhỏ mà cười hiền từ.
