Chương 1139
Chương 1139: Hạm đội 80 đại chiến 6
Đăng ngày 30/09/2026
19
Hai chiếc thuyền tuần tra gắn pháo tự động quần thảo liên tục trên mặt biển, sau khi tiêu diệt sạch hai mươi chiếc thuyền dài của tinh linh thì nghênh ngang quay về cảng.
Hai chiếc tuần tra vừa về tới cảng liền thấy một hạm đội khổng lồ toàn thân bốc khói đen kịt, đang chậm chạp nhích từng bước vào trong quân cảng.
Ngay lúc nãy, khoảng năm giờ chiều, trận quyết chiến giữa hạm đội chủ lực hai nước đã phân định thắng bại.
Liên Minh đổi chiến thuật, lấy Hồng Long và Lam Long làm mũi giáo công kích, ỷ vào tàu chắc pháo mạnh giáp dày mà đâm thẳng vào cụm chiến hạm Đa Nặc Vạn, quyết giáp lá cà với đối phương!
Khoảng cách đôi bên nhanh chóng rút ngắn từ mười lăm cây số xuống còn năm cây số.
Khoảng cách năm cây số đối với thiết giáp hạm chẳng khác nào hai gã trưởng thành đứng mặt đối mặt vung nắm đấm vào nhau.
Khi tới cự ly này, xác suất bắn trúng của pháo chính đôi bên vọt lên hơn 50%, cứ hai phát đạn lại có một phát găm trúng quân địch!
Giờ phút này đọ chính là xem pháo ai ác hơn, mà pháo chính 280 ly của Liên Minh là loại có khẩu kính lớn nhất trên toàn mặt biển, cũng là thứ quái vật hung hãn nhất!
Một đợt bắn phá đồng loạt của hai chiến hạm là mười hai phát đạn 280 ly lao vút về phía biên đội tàu Đa Nặc Vạn!
Đạn nổ tung trên cùng một chiến hạm, tức thì nổ cho thân tàu ánh lửa ngập trời, khói bụi cuồn cuộn, gần như tê liệt hoàn toàn!
Hải quân bên phía Đa Nặc Vạn cũng cực kỳ hung tợn, dựa vào chất lượng tổng thể tàu bè tốt hơn, điên cuồng nã pháo vào dàn chiến hạm hạng hai của Liên Minh!
Thế mà bắn chìm được một tàu hạng hai của Liên Minh, nã trọng thương thêm hai chiếc khác!
Nhưng trong trận hải chiến này, một kỹ thuật đặc biệt của Liên Minh đã trở thành chìa khóa định đoạt thắng bại: vỉa than!
Không gian bên trong chiến hạm phần lớn đều dùng để chứa than đá, nhưng cách bố trí khoang than của Liên Minh và Đa Nặc Vạn lại hoàn toàn khác nhau.
Phía Liên Minh bố trí khoa học hơn, bởi Lý Tần Vũ miễn cưỡng xem như một kẻ mê quân sự, hắn biết lớp than đá hoàn toàn có thể tận dụng làm một lớp giáp phòng hộ.
Đại khái là các khoang than của chiến hạm Liên Minh đều được dựng ốp sát vào mạn thuyền, pháo đạn đối phương sau khi xuyên thủng tấm giáp ngoài thì động năng vốn đã tiêu hao phần lớn.
Dù đạn có xuyên vào trong cũng không thể chạm tới các khoang và thiết bị trọng yếu, mà chui tọt vào khoang than rồi nổ tung giữa đống than đá.
Than đá thứ này, nổ thì nổ, có hề hấn gì đâu?
Vì thế chiến hạm của Liên Minh trong trận hải chiến tỏ ra trâu bò dị thường, sau lớp giáp sắt còn có lớp than dày cộp chắn đạn, khó lòng tổn hại đến thiết bị cốt lõi.
Thế nhưng đám công trình sư thiết kế tàu chiến bên phía Đa Nặc Vạn lại không có năng lực gian lận như Lý Tần Vũ, thiết kế bố cục chiến hạm của bọn họ trải qua tiến trình phát triển riêng.
Hải quân Đa Nặc Vạn bước lên từ thời đại tàu buồm, mà thời tàu buồm có thứ gọi là đá dằn tàu, tức là đặt vật nặng ở đáy tàu để dằn xuống.
Chỉ cần vật nặng này giữ vững dưới đáy, dù trên biển phong ba bão táp dữ dội đến đâu thì thân tàu cũng không lật úp.
Thiết giáp hạm của Đa Nặc Vạn phát triển tuần tự tự nhiên, thế nên chúng kế thừa truyền thống dằn đáy đó.
Bọn họ rải khoang than xuống tận đáy tàu, lấy than đá làm đá dằn.
Cho nên, khi chiến hạm hai bên bắt đầu giáp lá cà, chính chi tiết kỹ thuật dằn tàu nhỏ nhoi này đã định đoạt thắng bại đôi bên!
Pháo Đa Nặc Vạn nã trúng tàu Liên Minh, dẫu bắn thủng được lớp giáp ngoài thì bên trong cũng chỉ lộ ra từng khoang than đen kịt.
Còn Liên Minh dội cự pháo sang, phát nào phát nấy đều là sát thương thực thụ, đạn pháo khoan thẳng vào ruột tàu Đa Nặc Vạn nổ tung, phá nát các cơ sở cốt lõi!
Sau khi hai hạm đội đối đầu ở cự ly năm cây số, nã pháo chưa đầy mười phút, biên đội tàu Đa Nặc Vạn đã không chịu nổi nhiệt.
Chiến hạm chủ lực thứ hai của họ là Quế Quan bị hạm đội Liên Minh dội pháo suốt năm phút, toàn thân trúng hơn hai trăm phát đạn.
Trong đó trúng đạn pháo 280 ly hơn ba mươi phát, uy lực khủng khiếp của loại pháo cỡ lớn này cày nát giáp hông của Quế Quan lồi lõm biến dạng.
Thậm chí một phát đạn còn nổ tung ngay trên tháp chỉ huy đài chỉ huy, khiến cả đài chỉ huy bốc khói mù mịt!
Hết cách, Quế Quan đành phải rút lui, lảo đảo xiêu vẹo chạy về phía xa.
Tiếp đó, chiến hạm chủ lực của Liên Minh lại tập trung hỏa lực, dội pháo vào một tàu chủ lực khác của Đa Nặc Vạn mang tên Hồng Phủ.
Lại trải qua năm phút đọ pháo ác liệt, Hồng Phủ cũng không gánh nổi hỏa lực kinh hoàng từ pháo kích của Liên Minh, trọng thương tả tơi, lảo đảo rời khỏi chiến trường.
Đến đây, bốn chiến hạm chủ lực tân tiến của Đa Nặc Vạn thì một chiếc bị đánh phế, hai chiếc trọng thương.
Nếu đánh tiếp, ngay cả chiến hạm chủ lực cuối cùng cũng trọng thương nốt thì hải quân Đa Nặc Vạn sẽ hoàn toàn mất sạch khả năng tác chiến.
Thế là, hải quân Đa Nặc Vạn chọn cách rút lui. Bọn họ vứt bỏ soái hạm Vô Miện Chi Vương, khói đen cuồn cuộn ngút trời, cả hạm đội cắm đầu chạy về hướng bắc, mất hút giữa Tây Hải.
Tổn thất của hai bên trong toàn bộ trận chiến này như sau:
Liên Minh: Chìm hoàn toàn một tàu hạng hai, ba tàu hạng hai bị thương, soái hạm Hồng Long chịu tổn hại mức trung bình, lớp giáp trúng đạn hơn năm trăm phát, mười tám khoang than bị xuyên thủng, cần đại tu toàn diện.
Đa Nặc Vạn: Hai chiến hạm chủ lực trọng thương, hai tàu hạng hai trọng thương.
Soái hạm Vô Miện Chi Vương bị đánh phế hoàn toàn, sau đó Trùng Thạch hạ lệnh không tiếc giá nào kéo nó về quân cảng.
Thi thể của vị nguyên soái hải quân Đa Nặc Vạn trên tàu được hải quân Liên Minh khâm liệm chu đáo, ngày hôm sau trao trả lại cho Đa Nặc Vạn.
Đó chính là toàn bộ diễn biến trận hải chiến, sử gọi là Trận Chiến Một Ngày.
Trận chiến một ngày này đã mang lại lượng lớn kinh nghiệm thực chiến cho hải quân cả hai nước.
Hải quân Đa Nặc Vạn trong trận chiến này bị đại pháo hạm khổng lồ của Liên Minh bắn cho sang chấn tâm lý.
Hồng Long và Lam Long xung phong, đội hỏa lực của cả một hạm đội mà bắn thế nào cũng không thể bắn thủng!
Về sau hải quân Đa Nặc Vạn mổ xẻ lại trận đánh, nghe không ít sĩ quan kể lại rằng khi đạn pháo bắn trúng Hồng Long và Lam Long, giáp rõ ràng bị xuyên thủng, nhưng bên trong chẳng phải khoang trọng yếu mà lại lộ ra lớp than đen kịt!
Thế là, các tàu chiến đóng mới của hải quân Đa Nặc Vạn đều áp dụng thiết kế giáp khoang than, đổi bố cục từ đáy thuyền dời sang hai bên mạn.
Ngoài ra, hải quân Đa Nặc Vạn cũng bắt đầu học hỏi toàn diện Liên Minh, áp dụng quy chuẩn đóng đôi.
Tức là mỗi một cấp tàu chỉ đóng đúng hai chiếc, đóng xong sẽ tận dụng kinh nghiệm tích lũy được để sang cấp kế tiếp đóng tàu to hơn nữa!
Hồng Long và Lam Long, dựa vào thể lượng đồ sộ của mình, đã trở thành kẻ thống trị tuyệt đối trong toàn bộ trận hải chiến!
Suốt mấy chục năm sau đó, hải quân Đa Nặc Vạn luôn bị tư tưởng tàu to súng lớn chi phối, muốn chiến hạm bọc giáp dày hơn, vác pháo to hơn!
Còn phía Liên Minh lại một lần nữa kiểm chứng được uy thế áp đảo mặt biển của không quân, tính hết trận đánh, chỉ có hai chiếc phi thuyền là đạt tỉ lệ diệt địch trên tổn thất cao nhất.
Thả hai quả bom một trăm cân xuống, Vô Miện Chi Vương lập tức nằm liệt, hiệu quả này còn ghê gớm hơn chiến hạm đấu pháo chính suốt mấy tiếng đồng hồ!
Bởi thế, tiến trình nghiên cứu phát triển phi thuyền chiến đấu đời thứ ba của Liên Minh được đẩy nhanh tốc độ.
Phi thuyền chiến đấu đời thứ ba bắt đầu thử nghiệm loại bỏ túi khí, đi theo con đường máy bay phản lực.
Đám pháp sư Liên Minh thử biến ma lực thành nhiên liệu, phụt ra từ ống đẩy phản lực, chứ không còn đổi ma lực thành sức nổi trôi lơ lửng nữa.
Nhưng khó khăn kỹ thuật chồng chất, phi thuyền chiến đấu phản lực đời thứ ba chẳng biết tới bao giờ mới nghiên cứu chế tạo thành công.
