Chương 14
Chương 14: Vai trò và cơ quan phát âm của châu chấu
Đăng ngày 27/09/2026
19
Cánh xanh, cánh đỏ của lũ châu chấu bất chợt xòe tung như những chiếc quạt nan; những chiếc chân dài viền răng cưa màu xanh da trời hay ửng đỏ hoa hồng quẫy đạp lung tung trong lòng bàn tay chúng tôi — lũ trẻ nhà tôi trong giấc mơ chắc hẳn cũng thấy lũ côn trùng nhỏ bé đáng yêu và thú vị nhường này. Cũng như những hình ảnh chúng thấy qua đèn chiếu bóng ảo thuật, tôi cũng thường gặp lại chúng trong mơ. Nét ngây thơ hồn nhiên mà chúng mang lại luôn vỗ về cõi lòng mềm yếu của trẻ thơ lẫn người già.
Đi bắt châu chấu có thể coi là một chuyến đi săn vô thưởng vô phạt, già trẻ gái trai đều hợp. Lũ châu chấu đã mang đến cho chúng tôi những buổi sáng vui vẻ khôn xiết như thế đấy. Chú phụ tá nhỏ của tôi có thể dễ dàng tóm được những con châu chấu đã già, rồi cùng tôi tản bộ trên thảm cỏ khô cứng dưới ánh mặt trời gay gắt, cảm giác ấy mới tuyệt diệu làm sao!
Thân thủ thoăn thoắt, Tiểu Paul có một đôi mắt quan sát cực kỳ tinh tường. Khi định tóm một con châu chấu, thằng bé sẽ sục sạo kiểm tra kỹ lưỡng trong bụi cây, và lúc này, những con châu chấu xám bị kinh động sẽ bay vút ra như lũ chim non.
Với tư cách một thợ săn, Tiểu Paul liền dốc sức đuổi theo, rồi thất vọng dừng bước — con mồi đã cao chạy xa bay. Nhưng có được kinh nghiệm lần này, lần sau thằng bé ắt sẽ là một thợ săn may mắn hơn.
Marie-Pauline còn nhỏ tuổi hơn Tiểu Paul. So với việc chăm chú quan sát châu chấu Ý, một loài châu chấu khác với bốn vệt trắng vắt chéo trên lưng trông hệt như chữ thập Saint-André lại khiến cô bé say mê hơn nhiều.
Giống châu chấu này khoác tấm áo điểm xuyết vài mảnh xanh gỉ đồng, nom như những tấm huy hiệu qua các thời kỳ. Cô bé Marie đáng yêu kiên nhẫn từng chút một tiến lại gần con châu chấu, và khi bàn tay hạ xuống, cuối cùng cũng tóm gọn được nó.
Lũ châu chấu lần lượt được bỏ vào túi giấy, đến nỗi mặt trời còn chưa kịp gắt, chúng tôi đã thu hoạch được đủ chủng loại châu chấu phong phú.
Tôi nhốt những sinh linh nhỏ bé này trong lồng lưới. Nếu tôi biết cách đặt câu hỏi, có lẽ chúng sẽ hé lộ đôi điều bí mật về thế giới của mình — Ở ngoài đồng hoang, các ngươi đóng vai trò gì? Đó là câu hỏi đầu tiên tôi dành cho lũ tù binh của mình.
Sách giáo khoa bảo rằng các ngươi là loài gây hại, tiếng xấu muôn bề, nhưng liệu vì thế mà đáng phải chịu sự kết tội của con người chăng? Tôi vô cùng hoài nghi điều đó. Dĩ nhiên, những kẻ hủy diệt từng gieo rắc đại họa cho châu Á và châu Phi không nằm trong số này.
Cái lợi của các ngươi lớn hơn cái hại nhiều, chí ít tôi cho là vậy. Các ngươi chưa từng gây hại cho vùng đất này, người nông dân nơi đây cũng chẳng hề oán thán các ngươi. Cừu chê những loài cây gai góc, các ngươi lại xơi; đám cỏ dại đáng ghét mọc lẫn giữa hoa màu cũng là món khoái khẩu của các ngươi.
Chưa kể, những thứ không kết trái bị muông thú chê bai, các ngươi lại thích khôn cùng. Thực ra, đợi người ta gặt xong lúa mì các ngươi mới xuất đầu lộ diện, dẫu có vào vườn rau gặm trộm vài chiếc lá xà lách, đó cũng chẳng phải tội tày đình không thể dung thứ.
Kẻ thiển cận nông cạn, chỉ vì mấy quả mận còi cọc mà làm đảo lộn cả trật tự vốn có của vũ trụ; để hạng người ấy định đoạt số phận lũ côn trùng thì kết cục duy nhất chỉ có hủy diệt. May thay, gã không có quyền lực ấy. Chúng ta hãy thử quan sát xem, nếu loài châu chấu vốn chỉ gây chút thiệt hại cỏn con cho vườn rau bỗng dưng biến mất hoàn toàn, hậu quả mang lại cho chúng ta sẽ ra sao.
Độ tháng Chín, tháng Mười, lũ trẻ lùa đàn gà tây ra những thửa ruộng đã gặt. Nơi gà tây đi qua trơ trụi một màu, phóng tầm mắt ra xa chỉ thấy độc một khóm thanh cúc trổ mấy túm bông tàn cuối cùng. Thế mà lũ trẻ vẫn lùa đàn gà tây đến đây, vậy đàn gà đang đói cồn cào kêu quang quác kia định làm gì?
Câu trả lời là: đây chính là bãi kiếm ăn của lũ gà tây. Chúng phải được vỗ béo múp míp ở nơi này để đến Giáng sinh trở thành món ngon trên bàn tiệc. Vậy thức ăn của gà tây là gì? Đúng thế, chính là châu chấu. Món gà tây nướng thơm ngon mà người ta thưởng thức trong đêm Giáng sinh phần lớn được nuôi lớn nhờ món ăn trời ban, chẳng tốn lấy một xu một cắc.
Đàn gà sao tha thẩn quanh nông trại, chẳng còn nghi ngờ gì nữa, chúng đang nhặt nhạnh hạt lúa rơi vãi, nhưng xin lưu ý, thứ đầu tiên chúng để mắt tới lại là châu chấu. Những chú châu chấu béo ngậy khiến gà sao tích thêm một lớp mỡ dưới cánh, nhờ đó thịt càng thêm đậm đà, thơm ngon. Mê châu chấu còn có gà mái, nó biết tỏng loài côn trùng này có tác dụng kích thích đẻ nhiều trứng. Nếu thả ra khỏi chuồng, việc đầu tiên nó làm là dắt đàn gà con ra đồng lúa mì vừa gặt xong, tìm kiếm lũ châu chấu giàu dinh dưỡng.
Nếu bạn có niềm say mê đặc biệt với món đặc sản trứ danh của vùng đồi miền nam nước Pháp — gà gô đỏ, và tình cờ bạn lại là một thợ săn, thì khi thuần thục mổ diều con gà gô vừa bắn hạ, bạn sẽ tìm thấy chứng cớ cho thấy loài côn trùng chịu hàm oan bấy lâu nay đã cống hiến thế nào cho các giống loài khác. Bạn sẽ thấy cứ mười con gà gô thì có đến chín con chứa đầy châu chấu trong bầu diều. Nếu quanh năm suốt tháng được nếm vị ngon của châu chấu, ký ức của chúng về các loại hạt thực vật hẳn sẽ tan biến không còn dấu vết.
Chim đuôi trắng Phổ La Vượng Tư là một trong những loài nổi tiếng nhất trong bộ lông đen hát hay đầy nhiệt huyết mà Toussenel từng miêu tả. Để tìm hiểu tập tính ăn uống của loài chim này, tôi đã bắt một con, ghi chép tỉ mỉ những thứ còn sót lại trong diều và dạ dày của nó, nhờ đó nắm được thực đơn của loài này: đứng đầu bảng chính là châu chấu, tiếp theo là các loài cánh cứng như vòi voi, bọ cát, bọ ánh kim, bọ rùa, bọ rùa mai rùa và Bộ Giáp.
Loài chim này có thể gọi là chim ăn sâu bọ, chúng chẳng bao giờ kén chọn món thú rừng tí hon, ăn quả mọng chỉ là sự lựa chọn bất đắc dĩ khi thật sự không tìm ra mồi. Trong bốn mươi tám lần ghi chép của tôi, chỉ có ba lần là ăn thực vật, còn châu chấu luôn là loài côn trùng chúng xơi thường xuyên nhất và nhiều nhất. Ngoài chim đuôi trắng, khẩu vị của một số loài chim di cư nhỏ cũng y như vậy. Châu chấu là cao lương mỹ vị mà lũ chim di cư bé nhỏ này chẳng nỡ chối từ. Giữa cánh đồng hoang, chúng luôn tranh nhau săn đuổi con mồi, qua đó tích lũy nguồn năng lượng dồi dào cho chuyến hành trình vạn dặm.
Không chỉ động vật, con người cũng xơi châu chấu.
Tôi chưa từng đặt chân đến nhiều nơi đến thế. Nếu con người muốn ăn châu chấu, ắt hẳn cần một cái dạ dày cực kỳ khỏe mạnh, mà một cái dạ dày như thế thì đâu phải ai cũng có. Điều tôi có thể dám chắc là: châu chấu chính là thức ăn trời ban cho biết bao loài chim muông.
Ngoài chim muông, loài bò sát cũng mê mẩn châu chấu không kém. Chiếc bụng phệ của con thằn lằn hoa khiến lũ bé gái khiếp sợ chính là minh chứng rõ ràng nhất. Tôi còn nhiều lần thấy lũ thạch sùng trên tường ngậm trong miệng xác một con châu chấu mà nó phải trầy trật lắm mới tóm được. Nếu may mắn chộp được châu chấu, loài cá cũng mừng ra mặt; ngặt nỗi đối với loài cá, châu chấu đôi khi lại là thứ đoạt mạng, bởi cánh câu cá thường dùng loài côn trùng này làm mồi nhử ngon lành.
Thôi được rồi, chẳng cần tôi phải kể thêm những loài vật nào mê ăn châu chấu nữa, vai trò quan trọng của nó tôi đã nắm quá rõ. Nó biến phế phẩm thành báu vật, bằng một lối đi quanh co huyền diệu, để con người vốn vô cùng kén ăn cũng có thể gián tiếp thưởng thức. Song có một điều tôi vẫn chưa dám chắc: liệu có thật là con người không thích ăn trực tiếp châu chấu chăng?
Có những kẻ từ xa xưa đã ăn châu chấu, nhưng đó là chuyện bất đắc dĩ khi hoàn cảnh không cho phép người ta thưởng thức món khác. Tôi vốn quen với mật ong rừng, loại mật ấy cũng tìm thấy trong hũ mật của Thạch Phong và hoàn toàn ăn được; vậy thì tôi không khỏi tự hỏi, liệu loài côn trùng nơi sa mạc hoang vu có ăn được chăng? Giống như bao đứa trẻ khác, thuở ấu thơ tôi cũng từng nhai sống cùi chân châu chấu, hương vị ấy đối với tôi thuở đó quả thực không tệ. Nay đời sống khấm khá hơn, nhưng ta cứ thử nếm lại món ăn này xem sao.
Lăn mấy con châu chấu béo mẫm qua bơ, rắc thêm chút muối rồi đem rán. Đó là bữa tối của cả nhà. Mọi người đều cho rằng vị của nó ngon hơn nhiều so với món ve sầu mà Aristotle từng ca tụng. Dù phần thịt ăn được chẳng có bao lăm, nhưng lại thoang thoảng vị tôm, bảo là thơm ngon đậm đà cũng chẳng hề quá lời. Có điều đối với tôi, sẽ chẳng có lần thứ hai nữa đâu. Món này hợp với những kẻ có bộ hàm chắc khỏe hơn.
Thế nhưng dẫu dạ dày chúng ta có mỏng manh yếu ớt, điều đó cũng chẳng làm suy chuyển những ưu điểm của châu chấu. Những sinh vật sống trên đồng cỏ này đóng vai trò trọng yếu trong một xưởng chế biến thức ăn chuyên biệt. Nơi đồng hoang, chúng sinh sôi nảy nở khôn xiết, rồi biến những thứ vô dụng thành hữu dụng, cung cấp cho biết bao loài tiêu thụ, chim muông là một trong số đó, mà con người lại ăn rất nhiều chim muông. Bụng đói thì phải ăn, đó là điều không thể mặc cả, và đó cũng là lý do vì sao trong giới sinh vật, việc kiếm cái ăn luôn là chuyện hệ trọng hàng đầu.
Cũng chính vì muông thú đem hết trí khôn tột bậc, mánh khóe và mưu mẹo ra tranh giành một chỗ ngồi trong phòng ăn, khiến cho bữa tiệc vốn dĩ phải rộn rã tiếng cười vui lại biến thành một cực hình khó nỗi kham nổi. Dẫu vậy, con người vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi nỗi đọa đày của cơn đói, trái lại, còn thường xuyên phải nếm trải dư vị đắng cay của nó.
Dẫu sao, khoa học khiến chúng ta tin rằng, con người rồi sẽ có ngày thoát khỏi nạn đói. Hóa học hứa hẹn chẳng bao lâu nữa vấn đề này sẽ được giải quyết dứt điểm, còn người chị em của nó là vật lý lại đặc biệt mở ra một con đường mới mẻ. Khiến mặt trời làm tròn bổn phận một cách hiệu quả hơn, đó chính là việc vật lý phải làm; tưởng rằng chỉ cần làm cho nho mọng mật ngọt, phết sắc vàng óng lên bông lúa mì là món nợ giữa mặt trời với chúng ta coi như đã thanh toán xong ư? Điều vật lý cần làm là thu gom và tích trữ ánh nắng, để chúng ta muốn dùng lúc nào thì dùng.
Nguồn năng lượng được thu gom và tích trữ ấy có muôn vàn công dụng, chẳng hạn như nhóm lò, quay bánh răng, nghiền nát quả mọng, làm cối xay tự động vận hành. Cứ thế, công việc đồng áng vốn nhọc nhằn vất vả theo sự xoay vần của bốn mùa sẽ chuyển hóa thành phương thức vận hành như trong nhà xưởng; cái lợi của việc này là không cần tốn nhiều sức lực lẫn tiền tài, mà vẫn gặt hái được mối lợi lớn hơn bội phần so với thường nhật. Về phương diện này, hóa học cũng sẽ phát huy muôn vàn công năng khiến người ta hoa mắt. Nó sẽ giúp chúng ta bào chế ra những thức ăn giàu dinh dưỡng nhất.
Nhìn như viên thuốc, thực chất lại là mẩu bánh mì; thạch đông bình thường, hóa ra lại là miếng bít tết. Đó đều là công lao của hóa học, còn những nhọc nhằn đồng áng thời mông muội sẽ chỉ còn nghe thấy trong câu chuyện của các nhà sử học. Rồi sẽ có ngày, trâu bò cừu dê, hạt lúa mì, hoa quả, rau xanh đều biến thành thứ lỗi thời rồi biến mất. Có người bảo điều đó đánh dấu sự tiến bộ của nhân loại.
Khoa học khi chế ra các chất kịch độc quả thực có sức sáng tạo đáng kinh ngạc. Trong phòng thí nghiệm của tôi có rất nhiều kịch độc như thế. Giả sử người ta phát minh ra một cỗ máy chưng cất, dùng táo làm nguyên liệu để nấu ra hàng đống rượu mạnh khiến đầu óc chúng ta mụ mẫm, thì rõ ràng, nền công nghiệp sẽ chẳng gặp phải bất kỳ giới hạn nào. Nhưng dùng phương thức nhân tạo để chế ra thức ăn thực sự có giá trị dinh dưỡng lại là chuyện khác.
Thứ xứng đáng gọi là thực phẩm chỉ có thể là chất hữu cơ, mà chất hữu cơ thì không thể sản xuất trong phòng thí nghiệm. Vì thế, tôi có thể nói rằng, sự sống chính là nhà hóa học của thức ăn. Cũng bởi lý do đó, chúng ta đã rất tỉnh táo khi giữ lại đàn gia súc và nền sản xuất nông nghiệp, tiếp tục làm ra và tích trữ thức ăn theo phương thức truyền lại suốt ngàn năm qua. So với sự thô bạo của nhà máy, tôi tin vào những cách thức tinh vi hơn, đặc biệt là của những chú châu chấu bụng to kia.
Chúng chung tay góp sức tạo nên món ăn không thể thiếu trên bàn tiệc Giáng sinh cho chúng ta: gà tây. Bí quyết nằm trọn trong bụng chúng, bình chưng cất dù có ghen tị đến đâu cũng chẳng tài nào tạo ra được một con gà tây như lũ châu chấu.
Loài côn trùng từng đem lại món ngon cho bao người bản địa này dùng cách gảy nhạc cụ trên thân để bày tỏ niềm vui sướng. Giờ đây, hãy thử quan sát một chú châu chấu. Nó vừa đánh chén xong bữa trưa, đang nằm phơi mình dưới nắng nghỉ ngơi để tiêu hóa thức ăn. Bỗng nhiên, chú châu chấu cất tiếng kêu. Âm thanh ấy lặp lại ba bốn bận, lát sau nó lại phát ra tiếng kêu tương tự. Tiếng kêu nhỏ đến mức tôi đành phải nhờ cậy đôi tai thính lạ thường của Tiểu Paul. Khúc nhạc chẳng mấy êm tai, bởi châu chấu không có màng rung căng như lưỡi gà của nhạc cụ.
Châu chấu Ý chính là đại diện tiêu biểu. Chân sau của loài châu chấu này có hình dáng thuôn dài, mỗi mặt có hai đường gờ dọc to bản. Xung quanh gờ thô là những đường gờ mảnh hình xương cá xếp như bậc thang, dù mặt trong hay mặt ngoài đều rõ như nhau. Tất cả các gờ đều vô cùng trơn nhẵn, điểm này khiến tôi đặc biệt bất ngờ, nhưng cánh trước và chân sau của nó lại chẳng có gì khác lạ. Có thể tưởng tượng ra, một thứ nhạc cụ thô sơ thậm chí vụng về đến thế thì tấu nổi bản nhạc ra sao. Thế nhưng, chỉ vì chút âm thanh yếu ớt ấy, chú châu chấu chẳng quản nhọc nhằn nâng lên hạ xuống chiếc chân, rồi rung bần bật thật mạnh mẽ. Nó thấy vô cùng thỏa mãn với những gì mình làm, cất tiếng theo cách ấy để bày tỏ lòng yêu đời.
Đương nhiên không phải loài châu chấu nào cũng biểu lộ niềm vui bằng cách này. Lấy châu chấu mũi dài làm ví dụ, dẫu ánh mặt trời có sưởi ấm đến đâu, nó cũng chẳng buồn phát ra một tiếng. Tôi chưa từng thấy nó đong đưa chân sau bao giờ.
Cặp đùi thon dài của nó ngoài việc dùng để nhảy ra thì chẳng được tích sự gì. Chân của châu chấu xám cũng rất dài, tính tình cũng câm như hến, nhưng nó lại có cách riêng để biểu lộ niềm hân hoan. Vào những ngày trời quang mây tạnh, tôi thường thấy nó giương cánh trên bụi mê điệt hương, vỗ lia lịa suốt vài phút, bộ dạng như thể sắp bay lên. Thế nhưng, dẫu vỗ cánh hết sức ra trò, chúng ta lại chẳng nghe thấy chút thanh âm nào.
Tệ hơn cả châu chấu xám là châu chấu đùi đỏ. Nó tha thẩn dạo chơi giữa vùng Alpes bạt ngàn cỏ Paronychia. Là vị khách phương xa tới từ Địa Trung Hải, giữa những bông hoa trắng muốt như tuyết và nụ hoa đỏ thắm tựa hoa hồng, chú châu chấu đùi đỏ khoác manh áo cộc bó sát nom rực rỡ chẳng kém gì cỏ hoa trong vườn. Ở những vùng cao nguyên mây mù không che khuất nổi ánh dương, y phục của châu chấu đùi đỏ vừa tao nhã lại vừa mộc mạc. Tấm lưng trông như dải lụa nâu nhạt, bụng mang sắc vàng, đốt gốc chân sau đỏ thắm màu san hô, và đẹp lộng lẫy hơn cả là những đốt chân màu xanh da trời. Tôi không khỏi trầm trồ khen ngợi dáng vẻ khôi ngô tuấn tú ấy, dẫu vậy, nó rốt cuộc vẫn chỉ là một chú sâu bọ mang tấm áo ngắn cũn cỡn.
Kẻ này mang đôi cánh trước thô ráp, tách rời nhau như hai vạt áo đuôi tôm, chiều dài chẳng vượt quá đốt bụng đầu tiên; cánh sau lại càng ngắn hơn nữa, thậm chí không che nổi ngực trước. Những ai lần đầu nhìn thấy hẳn sẽ nhầm tưởng nó là ấu trùng, song thực chất nó đã là một con châu chấu phát triển hoàn chỉnh, đủ sức giao phối. Châu chấu đùi đỏ cho đến chết vẫn giữ cái vẻ gần như chẳng mặc áo quần ấy. Y phục đã cụt cỡn như thế, liệu có cần phải chỉ ra rằng nó chẳng thể nào cất tiếng hát hay chăng?
Nó không có cánh trước hoàn chỉnh, không có mép gờ nhô ra, chỉ trơ trọi cặp chân sau thô kệch. Những loài châu chấu khác phát ra âm thanh chẳng mấy vang dội, còn châu chấu đùi đỏ thì tuyệt nhiên câm bặt. Song tôi tin rằng kẻ im như thóc này chắc chắn có cách riêng để biểu lộ niềm vui, cũng như cất lời hiệu triệu bạn tình, chỉ là tôi chẳng hề hay biết mà thôi.
Còn về lý do tại sao châu chấu đùi đỏ không có cơ quan bay, tôi cũng chịu, không sao biết được. Suốt cả cuộc đời, nó chỉ là một kẻ tản bộ vụng về. Dường như nó an phận thủ thường, chẳng nuôi chút hoài bão nào, chỉ làm một kẻ cuốc bộ cũng đủ thấy thỏa thuê.
Sao nó không noi gương những người bà con có cánh của mình chứ? Bọn họ từ đỉnh núi này lướt qua thung lũng tuyết phủ nghiêng nghiêng, bay vun vút sang đỉnh núi khác; từ đồng cỏ đã gặt xong nhẹ nhàng lướt tới đồng cỏ hoang sơ chưa ai khai phá, chẳng lẽ những mối lợi dường ấy lại không chút giá trị nào hay sao?
Nó vốn có thể rút đôi cánh tàn phế vô dụng vốn chẳng che phủ nổi thân mình ra khỏi cơ thể, điều đó mang lại cho nó biết bao nhiêu điều lợi, cớ sao nó lại không làm?
Tiến hóa đã ngừng lại.
Có người cho là vậy. Cách nói này chẳng khác nào chưa trả lời. Tôi có thể chất vấn theo một cách khác: Tại sao sự đình trệ lại xuất hiện? Để hướng tới tương lai tốt đẹp, tức là có thể tự do bay lượn, lưng ấu trùng mọc ra bốn bao cánh, bên trong ẩn chứa đủ mọi mầm mống hữu ích, tất cả đều được sắp đặt thỏa đáng theo quy luật tiến hóa bình thường. Ngặt nỗi, cơ thể lại chẳng hưởng ứng quy luật ấy; châu chấu trưởng thành vẫn không có cánh, xiêm y của nó vẫn thiếu trước hụt sau. Liệu tình trạng này có liên quan tới điều kiện sống khắc nghiệt nơi dãy Alpes hay chăng? Khả năng ấy hoàn toàn không có, bởi ngay tại chính vùng đất này, những loài côn trùng khác vẫn có thể từ những gì ấu trùng ban tặng mà gom đủ sức mạnh để mọc ra đôi cánh.
Người ta từ lâu đã giữ một định kiến bất di bất dịch: rằng chỉ cần điều kiện cho phép, qua bao lần thử nghiệm, động vật cuối cùng sẽ toại nguyện mà có được một cơ quan nào đó. Lời giải thích của họ là động vật có nhu cầu làm thế, chứ không thừa nhận những tác động mang tính sáng tạo nào khác. Kỳ thực những con châu chấu kia, đặc biệt là loài sống trên Vạn Đỗ Sơn, qua ngàn năm sinh sôi nảy nở, vốn dĩ hoàn toàn có thể từ vạt áo ngắn cũn của ấu trùng mà phát triển thành cánh trước và cánh sau.
Đúng là như thế, hỡi các bậc đại sư lừng danh, xin hãy nói cho tôi biết, vì cớ gì châu chấu đùi đỏ chỉ giữ lại mầm mống của cơ quan bay mà không từ đó mọc ra đôi cánh? Trải qua sự gột rửa của ngàn năm năm tháng, hẳn nó cũng phải chịu sự thôi thúc của nhu cầu chứ; khi nó lảo đảo lặn lội gian nan giữa vách đá cheo leo, nó sẽ nghĩ rằng nếu có thể bay lượn để thoát khỏi tình cảnh khốn đốn này thì tuyệt diệu biết bao. Bởi vậy hẳn nó cũng đã trải qua muôn vàn nỗ lực, thế nhưng kết quả của mọi sự cố gắng đều chẳng thể khiến đôi cánh đang ở trạng thái mầm non kia mở rộng hoàn toàn.
Cứ theo cái lý lẽ của các ngài, trong điều kiện hoàn toàn giống nhau như nhu cầu, thức ăn, khí hậu, tập tính..., có kẻ phát triển hoàn thiện để bay lượn trên cao, có kẻ lại chuốc lấy thất bại, vĩnh viễn là một kẻ cuốc bộ vụng về. Lối giải thích ấy thì khác gì không nói? Tôi không thể nào chấp nhận nổi cách lý giải hoang đường dường ấy. Tôi thà thừa nhận bản thân chẳng biết gì về điều này, còn hơn ngồi đó mà đưa ra những suy đoán vô căn cứ.
Thôi đành gạt kẻ tụt hậu ấy sang một bên vậy, chẳng rõ vì sao giống loài này lại rớt lại phía sau một quãng xa đến thế. Dù lòng đầy hiếu kỳ, ta vẫn không tài nào đưa ra lời giải thích thỏa đáng cho sự tiến lên, ngưng trệ hay nhảy vọt trong quá trình phát triển thể xác. Hiện tượng này ắt hẳn ẩn chứa một căn nguyên sâu xa, và khi đối mặt với nó, cách thỏa đáng nhất chính là khiêm tốn thừa nhận sự nông cạn của chính mình.
