Chương 15
Chương 15: Đại Khổng Tước Điệp quyến rũ
Đăng ngày 27/09/2026
19
Sâu bướm của Đại Khổng Tước Điệp mang lớp da màu vàng, sắc thân rực rỡ như thế cực kỳ dễ khiến người ta chú ý. Đuôi các đốt thân của sâu bướm bao quanh những sợi lông tơ đen, mọc rải rác thưa thớt. Ở chóp đuôi còn khảm những hạt ngọc lấp lánh sắc xanh lam pha lục. Lá hạnh đào già là thức ăn của sâu Đại Khổng Tước Điệp, kén của chúng thường dính chặt vào lớp vỏ cây sát gốc. Kén có màu nâu, trông như cái giỏ bắt cá của ngư dân, hình dáng kỳ lạ lại vô cùng thô to.
Một con Đại Khổng Tước Điệp đã phá kén chui ra trên bàn thí nghiệm của tôi vào sáng ngày mùng sáu tháng Năm. Đó là một con Đại Khổng Tước Điệp cái, nó lột xác biến hình ngay trước mắt tôi. Tôi vội vàng nhốt con bướm vừa lột xác này vào lồng lưới kim loại hình chuông. Với tư cách một người quan sát, tôi chỉ đơn giản nhốt nó lại chứ không can thiệp gì thêm. Mình mẩy nó ướt sũng, đó là do độ ẩm khi vừa phá kén. Tôi quan sát nó vô cùng tỉ mỉ, không dám lơ là một khắc, chỉ sợ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng.
Đại Khổng Tước Điệp mang vẻ ngoài tuyệt mỹ. Chúng khoác lên mình chiếc áo nhung màu hạt dẻ, thắt chiếc cà vạt lông trắng muốt. Giữa đôi cánh có một đốm tròn, hệt như một con mắt đen láy rạng ngời. Đốm tròn này có một quầng sáng diễm lệ như cầu vồng, các sắc thái màu hạt dẻ, đỏ mào gà cùng sắc trắng đan xen tỏa rạng. Rìa cánh mang sắc trắng mờ như khói, còn ở giữa lại có một đường uốn lượn chữ chi vắt ngang, cũng mang sắc trắng. Ngoài ra, trên cánh Đại Khổng Tước Điệp còn điểm xuyết vô số đốm xám và nâu.
Gần chín giờ tối, người nhà tôi đều đã chìm vào giấc mộng. Thế nhưng đúng lúc này, tôi nghe thấy một tràng hỗn loạn từ phòng bên cạnh vọng sang. Paul dường như đang xê dịch thứ gì đó, thằng bé cởi trần chạy nhảy tới lui, chân giậm thình thịch, ra sức xô đổ ghế. Tôi nghe thấy tiếng nó reo lên, vừa phấn khích vừa kích động: "Mau tới đây đi cha, trong phòng đầy bướm đang bay lượn, to như chim sẻ ấy!" Tôi vội vã chạy sang, cảnh tượng đập vào mắt khiến tôi kinh ngạc khôn cùng. Trước đây, chưa từng có loài bướm lớn nào có thể chiếm cứ nơi ở của tôi như thế này. Vô số con Đại Khổng Tước Điệp bay rợp phòng con trai tôi, bốn con trong số đó đã bị tóm gọn nhốt vào lồng chim sẻ.
Nhìn cảnh tượng này, tôi sực nhớ tới con Đại Khổng Tước Điệp cái bị tôi nhốt trong lồng kim loại hình chuông sáng nay. Tôi bảo Paul: "Con trai, để lồng chim lại đó, mặc áo vào rồi đi với cha xem rốt cuộc có chuyện kỳ quái gì xảy ra." Tôi cùng con đi tới phòng thí nghiệm nằm bên phải phòng ngủ. Đi ngang qua bếp, chúng tôi bắt gặp chị bảo mẫu cũng đang khiếp vía, chị ta đang lấy tạp dề xua đuổi lũ bướm. Ban đầu chị ta còn tưởng đó là dơi. Đám Đại Khổng Tước Điệp này chính là do con bướm cái bị giam cầm sáng nay chiêu dụ tới, có lẽ chúng đã chiếm trọn cả căn nhà của tôi rồi. May mà vẫn còn một ô cửa sổ mở toang, cho phép chúng bay ra ngoài mà không gặp trở ngại nào.
Bước vào phòng thí nghiệm, cảnh tượng trước mắt càng khắc sâu vào ký ức tôi. Một bầy Đại Khổng Tước Điệp bay lượn quanh chiếc lồng lưới hình chuông giam giữ con bướm cái. Chúng lúc thì sà tới, lúc lại bay đi. Bay đi lượn lại, chốc chốc ngừng nghỉ, chốc chốc lại tiếp tục vỗ cánh, va chạm vào trần nhà cùng các đồ vật phát ra tiếng lách tách giòn giã. Cả phòng thí nghiệm hệt như hang động của một kẻ gọi hồn bói toán, tràn ngập hiểm nguy. Con trai tôi vì sợ hãi mà nắm chặt lấy tay tôi, thằng bé cố làm cho mình can đảm hơn. Đại Khổng Tước Điệp thỉnh thoảng bám vào quần áo chúng tôi, sượt qua mặt, lại còn vỗ cánh bồm bộp lên vai. Có lúc chúng lại lao về phía ngọn nến, dùng cánh dập tắt ánh lửa. Tính cả những con trong phòng ngủ và nhà bếp, tổng cộng có chừng bốn mươi con Đại Khổng Tước Điệp bay vào nhà tôi.
Ai ai cũng biết loài bướm lớn nhất châu Âu này, thế nhưng không phải ai cũng từng chứng kiến vũ hội Đại Khổng Tước Điệp đêm nay. Đây thực sự là một bữa tiệc khiến tôi tới nay vẫn không thể nào quên. Chúng bay tới để cầu hoan với con bướm cái, thế nhưng hơn bốn mươi con đực này làm cách nào để nhận được tin tức? Ngọn lửa nến đã thiêu sém cánh của không ít kẻ lỗ mãng, hôm nay chúng ta tạm thời đừng quấy rầy những kẻ si tình này nữa. Tôi nghĩ ngày mai hãy lập sẵn một bảng câu hỏi thí nghiệm, rồi sau đó mới tiến hành nghiên cứu chúng. Hôm nay cứ để tôi dọn dẹp hiện trường trước đã.
Cuộc quan sát bầy Đại Khổng Tước Điệp của tôi kéo dài suốt tám ngày. Trong tám ngày đó, lần nào chúng cũng xuất hiện trong nhà tôi vào cùng một khoảng thời gian, tức là từ tám giờ đến mười giờ tối. Đây chính là lúc đêm đen mịt mù, ngoài hoa viên hoàn toàn chẳng nhìn thấy gì. Lại thêm trời nổi giông bão, mây đen giăng kín khiến bầu trời tối tăm như mực. Ngoài việc phải đối mặt với bóng đêm, bầy bướm còn phải lách qua muôn trùng chướng ngại trên đường tìm đến nhà tôi.
Đại Khổng Tước Điệp cần phải bay lượn quanh co xuyên qua những cành cây rậm rạp và màn đêm đen đặc mới tới được nơi tôi ở. Ngôi nhà của tôi nhờ có cây bách và thông che chắn nên không bị gió tây bắc từ miền nam nước Pháp ập vào tàn phá. Đó là thứ gió khô cằn, giá buốt và vô cùng dữ dội. Toàn bộ căn nhà ẩn mình giữa những rặng tiêu huyền cao lớn. Cách cửa lớn vài bước chân có một bức tường thành tự nhiên tạo bởi những bụi cây thấp. Lại thêm một con đường nhỏ dẫn vào nhà, tựa như tiền sảnh, hai bên mọc đầy tường vi và đinh hương rậm rạp.
Dưới muôn vàn khó khăn trắc trở như vậy, Đại Khổng Tước Điệp lại không chút do dự bay đến, hơn nữa dọc đường bay chúng hoàn toàn không đụng trúng bất cứ vật gì. Đường bay gian nan nhường này, ngay cả cú mèo cũng chẳng dám mạo hiểm rời khỏi hốc cây ô liu để thử sức. Thế mà bầy Đại Khổng Tước Điệp lại có thể dựa vào bản năng, định hướng chuẩn xác không hề sai lệch giữa những lối đi ngoằn ngoèo khúc khuỷu. Đối với chúng, bóng tối thực chất cũng tượng trưng cho ánh sáng. Sau khi vượt qua bao cản trở, trên mình chúng chẳng hề có một vết trầy xước. Đôi cánh nguyên vẹn không tì vết vẫn vỗ đều, tinh thần cũng vô cùng sung mãn.
Đại Khổng Tước Điệp không thể nào dựa vào thị giác siêu phàm mà tìm tới đây. Bởi lẽ dẫu cho võng mạc của chúng có thể cảm nhận được thứ ánh sáng mà võng mạc thông thường không thấy được, thì thị giác ấy cũng không thể mạnh tới mức cảm nhận từ một khoảng cách xa xôi như thế, huống hồ trên chặng đường dẫn tới nhà tôi còn có bao chướng ngại vật trùng trùng. Đại Khổng Tước Điệp cực kỳ nhạy cảm trước sự dẫn dắt của ánh sáng, thông thường chúng đều bay thẳng về nơi có ánh sáng chỉ đường. Tuy nhiên, vì ánh sáng đôi khi bị khúc xạ, nên trong tình huống ấy, chúng cũng sẽ đi lầm đường. Sai lầm này không khiến phương hướng bay bị lệch lạc quá lớn, chỉ khiến nhận thức của chúng về địa điểm chuẩn xác của đích đến có đôi chút sai lệch. Trên thực tế, mục tiêu trực tiếp của Đại Khổng Tước Điệp là con bướm cái trong phòng thí nghiệm của tôi. Thế nhưng có những con lại xuất hiện trong phòng con trai tôi, thậm chí là ở trong bếp. Điều này chứng tỏ thông tin mà bầy bướm nhận được không hoàn toàn chuẩn xác. Ánh sáng là một sức mạnh khiến Đại Khổng Tước Điệp không thể kháng cự, dẫu chỉ là tia sáng phát ra từ một ngọn đèn le lói.
Khứu giác và thính giác cũng tương tự như vậy. Khi chúng ta cần dựa hoàn toàn vào hai giác quan này để phán đoán nguồn gốc của mùi hương hay âm thanh, chúng luôn tồn tại sự sai lệch này hay sai lệch khác. Những con Đại Khổng Tước Điệp phán đoán sai lệch do ánh sáng dẫn lối không phải chỉ có đôi ba con, chúng cũng không hoàn toàn bay thẳng vào từ ô cửa sổ kia. Bởi vì ô cửa sổ đó chỉ cách chiếc lồng lưới nhốt bướm cái vài bước chân, nơi đó tuyệt đối là cửa ngõ dẫn tới đích đến chuẩn xác nhất. Tôi cũng nhìn thấy vài con bướm lảng vãng ở những nơi khác quanh phòng thí nghiệm. Có con bay vào từ bên dưới, quanh quẩn ở tiền sảnh, cùng lắm chỉ bay tới trước cầu thang. Thế nhưng phía trên cầu thang lại là một cánh cửa đóng chặt, đó là đường cùng. Xem ra ngoài những bức xạ ánh sáng thông thường mang lại thông tin dẫn lối, còn có một thứ khác cung cấp tin tức cho chúng từ đằng xa. Thứ tin tức này dẫn Đại Khổng Tước Điệp tới phụ cận của đích đến, khiến chúng bay lượn quanh quẩn để tìm kiếm vị trí chuẩn xác không chút sai sót.
Mọi người suy đoán thứ cung cấp tin tức cho Đại Khổng Tước Điệp chính là râu của nó. Con đực sở hữu đôi râu rộng có tác dụng như thiết bị dò tìm, trong thời kỳ động dục chúng dựa vào tín hiệu do râu phát ra để tìm đến nơi ẩn náu của con cái. Vậy thì, lớp áo lộng lẫy khoác trên mình Đại Khổng Tước Điệp chẳng lẽ không mang lại chút thông tin nào sao? Chẳng lẽ bộ xiêm y lộng lẫy này chỉ dùng để làm cảnh? Hãy làm một cuộc thí nghiệm rồi hẵng rút ra kết luận.
Vào đêm thứ hai tôi quan sát bầy Đại Khổng Tước Điệp, tôi tìm thấy tám con vẫn dùng dằng không chịu rời đi sau mười giờ đêm. Đêm hôm trước chúng cũng qua ô cửa sổ mở toang kia mà bay vào chỗ tôi. Tám con bướm này dừng lại trên thanh ngang của ô cửa sổ thứ hai, chúng giữ nguyên tư thế bất động. Ô cửa sổ thứ hai này đang đóng. Những con khác sau khi nhảy múa tới mười giờ đêm đều đã qua ô cửa sổ thứ nhất mà rời khỏi nhà tôi, duy chỉ có tám con này là vẫn kiên trì bám trụ. Chúng đã mang lại điều kiện tuyệt vời cho nghiên cứu của tôi.
Tôi dùng kéo cắt cụt râu của tám con bướm này, cắt sát tận gốc. Những con bướm trải qua phẫu thuật dường như không có phản ứng gì quá lớn đối với lần cắt bỏ này, thậm chí chẳng có mấy con đập cánh. Tình trạng này quả thực rất tốt, đúng như những gì tôi mong muốn. Chúng dường như không hề cảm thấy đau đớn vì bị cắt mất râu, cũng không vì nỗi đau ấy mà phát cuồng. Lũ bướm chỉ lặng lẽ đậu trên cửa sổ, cho tới khi ngày hôm ấy trôi qua hẳn.
Ngoài việc cắt cụt râu của những con Đại Khổng Tước Điệp đực, tôi còn phải xử lý con bướm cái. Để thu được kết quả nghiên cứu tốt hơn, tôi không thể để nó lộ diện trước mắt bầy bướm đực, mà chuyển nó sang một nơi khác. Tôi đặt con bướm cái dưới hàng hiên ở phía bên kia ngôi nhà, úp lồng lưới hình chuông ngay trên mặt đất. Chỗ này cách phòng thí nghiệm của tôi chừng năm mươi mét.
Đêm xuống, tôi quan sát tám con bướm đực bị cắt râu lần cuối cùng. Sáu con trong số đó đã biến mất, hai con còn lại rơi xuống sàn, dáng vẻ kiệt sức, chẳng còn chút sinh khí nào. Nếu tôi lật ngửa bụng hai con bướm này lên, chúng sẽ chẳng còn chút sức lực nào để tự mình lật lại. Không, xin đừng nghĩ đây là hậu quả do tôi cắt râu của chúng, hoàn toàn là do tuổi già sức yếu mà thôi. Dẫu tôi không dùng kéo làm phẫu thuật cắt cụt, kết quả cũng sẽ như vậy. Vậy sáu con bướm mất tích kia đã đi đâu? Nhờ sức lực còn khá dồi dào, chúng đã rời đi trước. Liệu chúng có tìm lại được chiếc lồng lưới nhốt bướm cái vốn đã bị dời đi nơi khác không? Địa điểm mới cách chỗ cũ một khoảng khá xa, mất đi đôi râu rồi, chúng còn bị con bướm cái thu hút nữa hay chăng?
Tôi chuẩn bị một căn phòng để tạm giam lũ bướm đực, phòng này khá rộng rãi và trống trải. Nơi đây không có bất kỳ đồ trang trí nào, nên sẽ chẳng có thứ gì làm tổn thương được chúng. Thi thoảng, tôi lại xách đèn lồng đến trước chiếc lồng lưới nhốt bướm cái, nó nằm ở khoảng đất trống ngoài trời, bốn bề tối om. Những con bướm bay đến đều bị tôi tóm gọn. Sau khi phân loại kỹ càng, tôi nhốt chúng vào căn phòng tạm vừa chuẩn bị. Lũ bướm trong căn phòng tạm ấy được tận hưởng một không gian yên tĩnh và tự do, biện pháp chuẩn bị này cũng sẽ được tôi dùng thường xuyên trong các thí nghiệm sau này. Phương pháp này giúp tôi đánh giá chính xác số bướm bay tới, tuyệt đối không đếm trùng một con nhiều lần.
Hơn mười giờ rưỡi, tôi kết thúc buổi thí nghiệm đêm nay, bởi sẽ chẳng còn biến cố nào xảy ra nữa. Trong số hai mươi lăm con bướm gom được, tôi phát hiện ra một con đã bị cắt râu. Đây là một kết quả khá nhỏ nhoi. Nghĩa là trong số sáu con bướm bị cắt râu hôm qua, dựa vào thể lực dồi dào mà rời khỏi chỗ tôi, chỉ duy nhất một con tìm lại được nơi ở của bướm cái. Kết quả thí nghiệm này chưa thể đưa ra phán đoán khẳng định hay phủ định nào về tác dụng của đôi râu, bởi vậy một cuộc thí nghiệm quy mô lớn hơn đang hết sức cấp bách.
Đến sáng hôm sau, tôi quan sát lại hai mươi lăm con bướm này. Tôi nhận thấy tất cả đều đang sống trong trạng thái ủ rũ. Nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là lũ bướm ủ rũ này hễ được tôi dùng ngón tay nhấc lên dường như lại hồi phục sinh khí. Tôi vẫn còn kỳ vọng vào chúng, biết đâu những con bướm này lại xuất hiện trước mặt bướm cái để múa lượn tưng bừng. Thế là, trừ con bướm đã bị cắt râu từ trước (thực tế nó cũng sắp chết rồi), tôi tiến hành phẫu thuật cho hai mươi tư con còn lại. Sau đó, tôi mở toang cửa phòng để chúng tự do bay đi.
Tương tự, để đảm bảo tính chuẩn xác cho thí nghiệm, cũng như để thử thách những con bướm vừa bay đi, tôi lại chuyển chỗ chiếc lồng lưới nhốt bướm cái. Lần này tôi đặt lồng lưới trong một căn phòng mé bên tầng trệt, đồng thời đảm bảo lối vào phòng không có vật cản. Tôi muốn lũ bướm có thể tìm thấy con bướm cái ngay từ ngưỡng cửa. Thế nhưng, trong số hai mươi tư con bướm bị phẫu thuật, đã có tám con suy nhược đến bờ vực cái chết. Chỉ mười sáu con còn lại rời khỏi phòng. Đêm hôm sau, tôi lại bắt được bảy con bướm quanh chiếc lồng lưới, thế nhưng toàn bộ đều là những kẻ mới đến, bởi chúng vẫn còn nguyên râu. Trong mười sáu con bay đi đêm trước, không một con nào tìm lại được chiếc lồng lưới này.
Xem ra, việc bị cắt râu quả thực là chuyện hệ trọng đối với Đại Khổng Tước Điệp. Nhưng trước khi đưa ra kết luận này, tôi vẫn còn một mối hoài nghi lớn chưa được giải tỏa. Liệu lũ bướm đực bị cắt râu có phải vì thiếu hụt bộ phận cơ thể mà xấu hổ không dám xuất hiện trước mặt bướm cái? Giống như chú chó Mouflar vừa bị người ta nhẫn tâm xẻo mất đôi tai, nhưng chú chó nhỏ ấy vẫn bảo: "Tôi vẫn dám xuất hiện trước mặt những con chó khác, tôi thấy ổn lắm." Xem ra, nỗi lo của chủ nhân chú chó Mouflar là thừa thãi. Khát vọng giao phối của Đại Khổng Tước Điệp vốn dĩ vô cùng mãnh liệt, và cũng hết sức ngắn ngủi. Vậy thì, lũ bướm bị tàn tật liệu có nỗi băn khoăn tương tự hay không? Liệu chúng có vì mất râu mà trở nên cạn kiệt tinh lực? Tôi cần phải làm thí nghiệm lần nữa.
Đây là đêm thứ tư của cuộc thí nghiệm. Lần này tôi bắt mười bốn con bướm làm đối tượng thí nghiệm, tất cả đều là những kẻ mới đến còn nguyên vẹn. Tôi vẫn tìm một căn phòng tạm để nhốt chúng qua đêm như cũ. Sang ngày hôm sau, lúc chúng đứng yên bất động, tôi nhổ đi một ít lông trước ngực chúng. Hành động này sẽ chẳng gây trở ngại gì cho chuyện ve vãn của bầy bướm, bởi chúng không hề thiếu bất kỳ cơ quan nào cần thiết trước lồng lưới bướm cái. Hơn nữa, vì lớp lông tơ mịn rất dễ vặt, việc tôi nhổ lông cũng không làm phiền đến chúng. Những con bướm bị vặt lông này chính là đối tượng thí nghiệm lần này của tôi.
Màn đêm buông xuống. Tôi lại đổi chỗ chiếc lồng lưới. Trong số mười bốn con bướm, không con nào vì bị nhổ lông ngực mà trở nên kiệt sức. Toàn bộ bọn chúng đều bắt đầu hoạt động khi đêm về. Hai tiếng đồng hồ trôi qua, tôi bắt được tổng cộng hai mươi con bướm đực đến ve vãn. Tuy nhiên, chỉ có hai con từng bị tôi nhổ lông, mười hai con còn lại đều không hề xuất hiện nữa. Xem ra khát vọng giao phối của chúng đã hoàn toàn biến mất.
Vậy thì, trong mười bốn con bướm bị nhổ lông, cớ sao chỉ có hai con tìm lại được chiếc lồng lưới? Mười hai con còn lại vẫn còn nguyên đôi râu cơ mà, chiếc râu vốn được người ta đồn đoán là thiết bị định vị của chúng đấy thôi. Nhưng tại sao chúng không bay trở lại? Mỗi lần lũ bướm đực bị tôi ép phải trải qua một đêm, sang ngày hôm sau tôi đều thấy chúng rơi vào trạng thái kiệt quệ. Lời giải thích duy nhất của tôi cho hiện tượng này là: khát vọng giao phối của chúng đã cạn kiệt. Miễn bàn cãi, mục tiêu duy nhất trong đời của Đại Khổng Tước Điệp đực chính là ve vãn bạn tình. Đây cũng là bản năng của mọi loài bướm. Bản năng ấy thúc đẩy chúng bay qua những quãng đường dài, vượt muôn vàn trắc trở cùng màn đêm thăm thẳm để cuối cùng tìm được con bướm cái mà mình ưng ý. Con bướm đực khi tìm được ý trung nhân sẽ dành ra một đến hai tiếng mỗi đêm, kéo dài trong hai ba đêm, để phô diễn và tán tỉnh trước mặt người tình. Nó buộc phải tận dụng tốt thời cơ, bởi một khi lỡ dở là coi như mất hết. Thiết bị định vị vốn vô cùng chuẩn xác sẽ hỏng hóc, ngọn đèn tín hiệu sáng rực cũng sẽ lụi tàn. Nếu không còn những chức năng này, Đại Khổng Tước Điệp đực còn lý do gì để tồn tại nữa? Cho nên, những con bướm mất đi bản năng ấy bắt đầu chẳng còn ham muốn ve vãn. Chúng nằm trong một góc khuất đợi chờ cái chết ập đến.
Đại Khổng Tước Điệp không ăn uống, trong đầu chúng chẳng có khái niệm gì về cái dạ dày. So với những loài bướm suốt ngày bận rộn lượn lờ từ bông hoa này sang bông hoa khác, Đại Khổng Tước Điệp tuyệt đối là một kẻ tuyệt thực. Đại Khổng Tước Điệp hóa bướm là để duy trì nòi giống cho đời sau, việc này chẳng liên quan gì đến ăn uống. Chúng không cần dựa vào thức ăn để hồi phục thể lực. Thêm nữa, cơ quan miệng của Đại Khổng Tước Điệp thực chất là một thứ rỗng tuếch, một phế phẩm dở dang không hơn không kém. Cơ quan miệng này chẳng có chút khả năng vận hành thực tế nào, hoàn toàn là đồ giả. Cũng như chiếc đèn dầu nếu cạn dầu thì đèn ắt sẽ tắt. Vì không biết ăn uống, Đại Khổng Tước Điệp chỉ cần gắng gượng hai ba đêm là sẽ kết thúc sinh mệnh ngắn ngủi trong nỗi kiệt cùng.
Đại Khổng Tước Điệp dù trải qua phẫu thuật hay giữ được thân thể lành lặn, tất cả đều sẽ mất đi sức sống do vòng đời quá đỗi ngắn ngủi. Điều này chẳng can hệ gì tới việc bị nhổ lông ngực hay bị cắt cụt đôi râu. Con bướm mất râu chưa chắc đã không thể tìm lại nơi đặt lồng lưới, mà con bướm bị vặt lông cũng chẳng phải chịu thương tổn gì to tát. Tình trạng kiệt sức của Đại Khổng Tước Điệp không liên quan gì đến việc mất râu, tác dụng của đôi râu vẫn cứ là điều đáng ngờ.
Thí nghiệm của tôi kéo dài tám ngày, và con bướm cái bị tôi giam trong lồng lưới cũng kiên trì suốt tám ngày ấy. Chiếc lồng lưới nhốt nó trong tám ngày này, đêm nào cũng phải đổi chỗ một lần. Từng đàn Đại Khổng Tước Điệp đực thuận theo ý muốn của tôi, dưới sự cám dỗ của bướm cái mà tìm đến ve vãn. Đợi đám khách ghé thăm đông đủ, tôi liền tóm gọn tất cả. Sau đó tôi nhốt chúng vào nơi ở tạm đã chuẩn bị sẵn từ trước. Tôi để chúng qua đêm trong căn phòng đó, đợi đến hôm sau sẽ nhổ bớt một ít lông trước ngực của chúng.
Ở vùng tôi sống, số lượng Đại Khổng Tước Điệp — Bướm đêm công lớn (Saturnia pyri) vô cùng hiếm hoi. Sở dĩ như vậy là vì những gốc mơ già mà chúng dựa vào để sinh tồn ở vùng này khá ít gặp. Tôi từng bỏ ra hai ngày mùa đông để lùng sục những cây mơ ấy, nhưng kết quả thu lại chẳng được bao nhiêu. Gốc rễ của chúng bị vùi lấp dưới đám cỏ hòa thảo lộn xộn, tựa như đang mang giày vậy. Thế nhưng sau tám ngày làm thí nghiệm, số lượng bướm đêm mà tôi bắt được lại lên tới một trăm năm mươi con. Đó quả thực là một con số khó tin. Lũ bướm này đều đến từ những nơi khá xa xôi, có thể cách đây hai cây số, hoặc thậm chí còn xa hơn nữa. Vậy rốt cuộc, làm sao chúng biết được trong phòng thí nghiệm của tôi đang nhốt một con bướm cái?
Trông cậy vào thị giác là điều bất khả. Đúng vậy, sau khi bay qua cửa sổ nhà tôi, lũ bướm chắc chắn có thể dựa vào mắt mình để tìm kiếm bướm cái. Nhưng trước đó thì sao? Dẫu chúng có sở hữu đôi mắt linh miêu trong thần thoại, có thể nhìn xuyên qua những bức tường dày cộm, thì cũng chẳng tài nào phát huy được bản lĩnh ấy từ khoảng cách xa hàng mấy cây số. Cho nên, ý nghĩ lấy thị giác làm hoa tiêu dẫn đường hoàn toàn là điều hoang đường.
Ngoài thị giác ra, vẫn còn hai yếu tố khác có thể thăm dò, đó là âm thanh và khứu giác. Thật ra, giả thuyết dựa vào âm thanh cũng không đứng vững. Con bướm cái bụng to quả thực có thể phát ra lời kêu gọi bướm đực từ khoảng cách rất xa, nhưng âm thanh nó phát ra lại vô cùng êm dịu. Cho dù sở hữu đôi tai thính nhạy nhất, âm thanh nghe được cũng chỉ mỏng manh tựa như không. Trong thời kỳ động dục, chịu sự thôi thúc của dục vọng cùng những rung động nội tâm, cơ thể bướm cái khi quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại cao sẽ lộ ra những nhịp rung khẽ khàng. Thế nhưng, lũ bướm đực lại đang ở cách xa hàng mấy cây số cơ mà. Làm sao chúng có thể nghe thấy tiếng gọi của bướm cái được chứ?
Yếu tố cuối cùng chính là khứu giác. Giả thuyết này rất đáng để làm thí nghiệm, bởi lẽ sự phát tán của mùi hương dường như dễ giải thích hơn bất kỳ điều gì khác về việc tại sao bướm đêm khi bay tới nơi lại phải lượn lờ chần chừ hồi lâu mới tìm ra chính xác chỗ ẩn náu của bướm cái. Liệu có thật sự tồn tại thứ mùi hương phát tán ấy chăng? Bản thân tôi không tài nào ngửi thấy. Song tôi tin rằng thứ mùi mà con người không cảm nhận được thì loài bướm đêm với khứu giác nhạy bén hơn chúng ta nhiều lại có thể nắm bắt. Vì vậy, tôi chuẩn bị tiến hành một thí nghiệm tương đối đơn giản. Tôi cần dùng một mùi nồng nặc hơn để lấn át mùi hương giúp bướm đực nhận ra bướm cái, đồng thời phải giữ cho mùi hương ấy lưu lại thật lâu không tan. Cứ như thế, mùi hương yếu ớt của bướm cái sẽ chỉ có thể phát tán giữa thứ mùi nồng gắt kia.
Trước khi đàn bướm đêm tìm đến, tôi đặt một bình chứa đầy băng phiến dưới chiếc lồng lưới hình chuông nhốt bướm cái. Sau đó, tôi lại bỏ một lượng lớn băng phiến vào căn phòng nơi lũ bướm đực sẽ tạm trú qua đêm. Lũ bướm đã đến. Chúng như thể hoàn toàn không ngửi thấy mùi băng phiến, vẫn tìm ra vị trí của bướm cái một cách chuẩn xác vô ngần. Kế hoạch dày công sắp đặt của tôi coi như đổ sông đổ bể. Dù niềm tin vào khứu giác có phần lung lay, song tôi không thể tiến hành thí nghiệm lần thứ chín được nữa. Bởi những đêm làm việc liên tiếp đã khiến con bướm cái bị giam trong lồng lưới kiệt quệ sức lực. Nó đẻ trứng lên lớp lưới của chiếc chụp hình chuông, rồi trút hơi thở cuối cùng. Mất đi đối tượng thí nghiệm, tôi chẳng còn việc gì để làm, tình trạng này đành phải kéo dài cho tới tận năm sau.
Để các thí nghiệm lặp lại sắp tới có thể diễn ra thuận lợi, tôi đã chuẩn bị vài thứ cần thiết. Đó là vào mùa hè, tôi mua sâu bướm của loài này từ lũ trẻ con hàng xóm với giá một xu mỗi con. Nhờ thế mà bọn trẻ cũng vui mừng khôn xiết. Học xong mấy bài chia động từ tiếng Pháp chán ngắt, chúng liền ùa ra đồng tìm bắt sâu bướm. Chúng không dám dùng tay chạm vào sâu, mà lấy đầu nhọn của một cành cây gí dính nó lại rồi mới đem giao cho tôi. Khi thấy tôi dùng ngón tay nhặt con sâu lên, đứa nào đứa nấy đều tròn xoe mắt kinh ngạc.
Tôi nuôi dưỡng đám sâu bướm trong khu vườn côn trùng nhỏ của mình, dùng cành hạnh đào để chăm chút cho chúng. Chẳng mấy ngày sau, công lao chăm bẵm của tôi đã được đền đáp, chúng kết cho tôi những chiếc kén hảo hạng. Tới mùa đông giá rét, tôi lại đi thu gom thêm nhiều bảo vật này dưới những gốc cây mơ, nhờ sự giúp đỡ rất lớn từ những người bạn cùng chung chí hướng. Trong số những chiếc kén khó nhọc mới có được ấy, có mười hai chiếc kén khá to và nặng, thảy đều là kén của bướm cái. Trải qua muôn vàn gian nan trong những ngày lạnh giá, kén vũ hóa rất muộn, và những sinh linh chui ra cũng chỉ là mấy chú bướm nhỏ vụng về chậm chạp.
