Chương 63
Chương 63: Người thủ hộ toái phong
Đăng ngày 27/09/2026
19
Ngày nay chúng ta sống qua ngày trong âu lo cùng phiền muộn, so với sự hồn nhiên vui tươi của thuở ấu thơ, chuỗi ngày hiện tại lại thường chẳng mấy khi đọng lại trong tâm trí. Thời thơ ấu đẹp đẽ nên được phần lớn mọi người hoài niệm, và tôi cũng nằm trong số đó. Tôi nhớ rất rõ thuở nhỏ mình đã dùng đôi mắt thơ ngây thuần khiết ấy ngắm nhìn vạn vật ra sao, thế nhưng hôm nay tôi vĩnh viễn chẳng còn ánh mắt trong trẻo năm nào nữa, chẳng thể đem một tấm lòng trẻ thơ miêu tả lại hết thảy những gì diễn ra trước mắt trong tuần này. Chuyến hành trình cuộc đời đưa tôi đến một thành phố mới toanh, nhưng về sau tôi lại chẳng có mấy ấn tượng sâu sắc về nơi ấy. Trái lại, ngôi làng nơi tôi từng sống thuở ấu thơ lại chưa từng rời khỏi tâm trí tôi một khắc nào. Dù đó là một ngôi làng gắn liền với cái nghèo, tôi của hôm nay vẫn dành cho nó một tình cảm trọn vẹn sâu nặng. Tôi thậm chí còn muốn chôn vùi nắm xương tàn của mình tại chốn ấy. Giữa ta và cố hương luôn có một sợi dây diệu kỳ gắn kết, tựa như loài cây cỏ, chừng nào sợi dây ấy chưa đứt, ta sẽ chẳng bao giờ lãng quên mảnh đất nơi mình sinh ra.
Khi một người còn là đứa trẻ, việc rời xa quê hương chẳng phải điều gì khổ sở. Ngược lại, với một đứa trẻ, bước ra khỏi mảnh đất chôn nhau cắt rốn để ngắm nhìn thế giới bên ngoài chưa hẳn đã không khiến lòng người phấn khích. Những điều mới mẻ luôn dễ dàng khơi gợi hứng thú của con trẻ. Thế nhưng, trải qua bao năm tháng trui rèn, đứa trẻ năm xưa nay đã thành người lớn, dần già đi theo năm tháng cuộc đời, và cũng dần bắt đầu hồi tưởng. Ngôi làng thuở nhỏ lại hiện về trong tâm trí. Nhờ thuở bé chúng ta còn giữ được những suy nghĩ tinh khôi, nên giờ đây nhớ lại, ngôi làng ngày ấy dường như đã được thi vị hóa. Một cố hương lý tưởng, cao đẹp hơn cả hiện thực khiến lòng người tán thán, xao xuyến nhớ nhung, cổ kính mà chẳng hề xa xăm. Chúng ta bắt đầu thích kể về ngôi làng ấy, hồi tưởng những chuyện từng diễn ra nơi đó. Cuộc đời sau cùng lặng lẽ khép lại trong miền ký ức.
Ba mươi năm sau, dẫu nhắm nghiền hai mắt tôi vẫn có thể tìm thấy phiến đá bằng phẳng từng bước qua thời thơ ấu. Ngày ấy tôi từng ngồi trên tảng đá lớn này lắng nghe tiếng hát của loài cóc chuông. Chỉ cần phiến đá này không bị dời đi hay đập vỡ, dẫu vạn vật xung quanh đều biến mất chẳng còn dấu vết, dẫu chẳng còn tiếng cóc chuông râm ran, tôi nhất định vẫn tìm ra được chốn này. Thậm chí tôi còn có thể chỉ ra nơi cóc tía từng cư ngụ.
Vào một sớm mùa xuân rực rỡ ánh nắng, tôi tìm thấy một sinh linh bé nhỏ xinh đẹp dưới gốc cây tần bì. Giữa những cành cây đan xen chằng chịt, tôi nom thấy một túm lông trắng nhỏ xíu mềm mại, phát hiện ấy khiến cõi lòng tôi xao động khôn nguôi. Tôi mơ hồ nhìn thấy con vật nhỏ bé ấy như đội một chiếc mũ rộng vành màu đỏ, đầu rụt sâu vào lớp lông tơ, nom sợ sệt vô cùng. Đó là một chú chim sẻ cánh vàng, nó đang nằm ấp trứng trong tổ của mình. Phát hiện đó làm tôi mừng rỡ khôn xiết. Còn hôm nay, chẳng cần nghĩ ngợi tôi cũng có thể tìm lại được cây tần bì năm xưa.
Tôi vẫn nhớ rặng cây tống quán sủi mọc ở phương hướng nào, chúng nằm ngay bên bờ suối. Rễ cây chằng chịt bện chặt dưới làn nước, chính là chốn ẩn mình của loài tôm suối. Những con tôm mang đôi râu dài ngoằng, phần bụng béo núc cùng đôi càng to bè tựa quả trứng, đầy đặn khôn cùng. Chính dưới bóng cây tống quán sủi này, tôi đã câu được những con tôm béo mẫm, tận hưởng niềm vui bất tận. Cảm giác ấy thật khó bề tả xiết.
Những ký ức tuổi thơ vừa tả vừa rồi hễ gặp phải khu vườn của cha tôi liền lập tức lu mờ, thôi thì hãy tạm gác lại những hồi ức vụn vặt đó, giờ đây tôi muốn tái hiện lại khu vườn của cha. Đó là một khu vườn nhỏ rộng chừng mười bước, dài độ ba mươi bước, nằm cheo leo nơi cao nhất của ngôi làng. Một khoảng đất trống trải phẳng phiu trải rộng ở đó, sừng sững một tòa lâu đài cổ kính, bầy bồ câu dựng tổ khắp bốn góc lâu đài. Đứng trên bãi đất trống ấy có thể thu trọn bốn bề cảnh sắc vào tầm mắt. Tòa lâu đài cổ thông với một ngõ nhỏ, men theo con ngõ đi đến tận cùng chính là nhà tôi. Vùng trũng kéo dài theo hình phễu, những mảnh vườn nhỏ của từng gia đình xếp thành từng bậc thang hướng dần lên trên. Khu vườn nhà tôi nằm ở bậc thang cao nhất, ngay trên đỉnh đồi, nhưng diện tích lại là nhỏ nhất.
Vườn của cha tôi thực chất là một vườn rau, trồng đầy củ cải, xà lách và bắp cải xanh mướt giữa các luống đất. Sát ngay mé sân sau là bức tường chắn đất, ở đó có giàn nho uốn vòm tựa như một hành lang biếc xanh. Đó là giàn nho trắng, lớn rất chậm, dẫu nắng nôi chan hòa cũng phải mất rất nhiều thời gian mới kết thành chùm quả. Góc vườn này tràn trề ánh nắng nên mới có thể trồng được nho, khiến đám hàng xóm vô cùng ghen tị. Trong mảnh vườn nhỏ có một cây táo cổ thụ sum suê, tán lá phủ rợp gần như cả khu vườn, căn bản chẳng thể trồng thêm bất kỳ loài cây nào khác.
Trên nền đất thềm trước có một hàng rào chắn, kết từ rặng cây lý gai nhằm ngăn đất chuồi lở. Tôi và em trai thường hay bò sát hàng rào nhìn xuống con hào sâu hoắm dưới chân tường nhà hàng xóm, dĩ nhiên là phải chọn lúc cha buông lỏng cảnh giác. Khu vườn của ngài công chứng viên nằm gọn bên trong bức tường ấy. Bức tường bị áp lực của đất đẩy lồi cả ra ngoài. Chúng tôi trước giờ vẫn đứng từ trên cao nhìn xuống bức tường, nơi ấy chẳng khác nào chốn bồng lai tiên cảnh. Bởi sát tường có trồng những cây lê, loại cây thật sự có thể cho ra những trái lê to tướng. Lúc thu tàn, những trái lê ấy được đệm bằng lớp rơm rạ rủ xuống, nom đã chín mọng. Ngoài lê ra, dọc chân tường còn trồng vài cây hoàng dương. Với ngần ấy trái lê ngon lành cùng khoảng không gian khoáng đạt đến thế, nơi đó há chẳng phải thiên đường sao?
Từ kẽ nứt trên tường mọc ra một bụi cây nhỏ còi cọc, trông vô cùng lẻ loi, cao ngang tầm với rặng lý gai nhà tôi. Phần lớn lá của bụi cây này rủ xuống phủ lên dãy thùng ong của ngài công chứng viên, chỉ có một nhánh nhỏ vươn sang mé đất nhà tôi. Nhánh cây ấy thuộc về chúng tôi, nhưng muốn hái quả thì lại khó vô cùng. Lũ ong mật quanh thùng ong đang chăm chỉ làm lụng, chúng bay lượn lờ như làn khói bếp bảng lảng dưới gốc cây mộc qua lớn. Có một cành cây khá to chìa ra giữa khoảng không, tôi ngồi vắt vẻo trên đó rồi nhích dần thân mình tới. Cành cây mà gãy, tôi sẽ mất chỗ bám mà rơi tọt vào giữa đàn ong, khi ấy ắt gãy xương là cái chắc. May mà cành cây chưa từng gãy, và tôi dĩ nhiên cũng chưa từng bị gãy xương. Đứa em trai đưa cho tôi một chiếc sào có móc nhọn, tôi dùng nó khều chùm quả lại gần chỗ mình với tới. Đợi đến khi nhét đầy quả vào túi áo túi quần, tôi mới cẩn thận ngồi thụt lùi lại trên cành cây rồi trèo xuống đất. Thuở ấy tôi lại dám trèo lên cành cây hiểm trở chỉ vì mấy chùm quả dại, sơ sẩy rơi xuống là mất mạng như chơi. Giờ ngẫm lại, quãng thời gian ấy mới tha thiết làm sao.
Thôi được rồi, tạm gác lại dòng hồi ức nơi đây. Dẫu ký ức của tôi có làm tôi say mê đến nhường nào, độc giả cũng chẳng mấy hứng thú với những chuyện vụn vặt này. Tôi không cần phải đánh thức tất thảy những kỷ niệm tương tự làm chi, tôi chỉ cần biết thuở ấy mình từng có những suy nghĩ thanh tân đến độ nào. Suy nghĩ ấy tựa như tia nắng đầu tiên rọi vào căn nhà tối tăm, khiến người ta chẳng thể nào quên. Năm tháng bào mòn chẳng những không làm tôi lãng quên chúng, mà trái lại còn khiến tôi khắc ghi càng thêm rõ nét.
Liệu côn trùng có giống con người, lưu giữ ký ức sâu đậm vẹn nguyên như mới từ những cảnh vật đầu tiên mà chúng trông thấy hay chăng? Đại đa số côn trùng sống nay đây mai đó thì không như vậy, chúng bất kể ở đâu, chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện nhất định thì sẽ dừng chân tại đó. Thế còn những loài côn trùng định cư, sống thành bầy đàn thì sao? Chúng có quyến luyến chẳng nỡ rời xa mảnh đất nơi mình sinh ra? Chúng có ôm ấp ký ức sâu đậm về chốn quê hương hệt như chúng ta hay không? Đúng vậy, chúng sẽ tìm về nơi mẹ từng sống để sửa sang và xây đắp lại. Ong đào vằn chính là một minh chứng trong vô vàn ví dụ. Mức độ gắn bó của chúng đối với nơi chôn nhau cắt rốn vượt xa sức tưởng tượng của chúng ta.
Đàn con của Toái phong chào đời vào mùa xuân, chừng hai tháng sau thì lột xác thành trùng. Lũ Toái phong non này sẽ lần đầu rời khỏi tổ ấm vào tháng Sáu để bước ra thế giới bên ngoài. Năm tháng thoi đưa chẳng hề khiến tôi quên chú cóc tía thuở ấu thơ từng ngồi thu lu trên phiến đá, trên bờ rào lý gai, trong khu vườn của ngài công chứng viên. Những chuyện vụn vặt ấy đã trở thành hồi ức tươi đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Vậy đối với Toái phong, liệu có giống như thế chăng? Chúng có ghi nhớ vạn vật đập vào mắt mình trong khoảnh khắc đầu tiên bước chân ra khỏi cửa? Và cảnh tượng lọt vào tầm mắt lúc ban đầu ấy liệu có càng thêm sâu sắc qua sự tôi luyện của thời gian? Dĩ nhiên rồi, Toái phong sẽ nhớ kỹ ngọn cỏ non từng cho nó nương mình trong lần đầu cất cánh, cũng sẽ nhớ từng hạt cát mà móng vuốt nó chạm phải khi leo trèo trên thành giếng đá. Hệt như ký ức sâu đậm của tôi về chốn chôn nhau cắt rốn, Toái phong cũng sẽ khắc cốt ghi tâm mảnh đất nơi mình sinh ra. Trong một buổi sáng ấm áp, Toái phong đã làm quen với ngôi làng nơi nó cất tiếng khóc chào đời.
Toái phong non lần đầu bay tới bụi hoa để thu lượm phấn và mật, chúng vừa ăn vừa nghỉ ngơi tại đó, đồng thời quan sát kỹ mảnh đất mà sau này sẽ còn quay lại gặt hái nhiều lần. Dù bụi hoa cách tổ khá xa, song điều này chẳng thể làm Toái phong non lạc lối, bởi chuyến bay đầu tiên đã lưu lại trong nó ấn tượng và ký ức sâu sắc. Giữa thị trấn Toái phong rải rác những ụ đất nhỏ, Toái phong non nhanh chóng tìm thấy tổ ấm của mình, nơi chiếc hang nó cất tiếng chào đời. Đó chính là chốn mà suốt quãng đời về sau nó sẽ vĩnh viễn chẳng thể nào quên.
Toái phong mỗi năm sinh sản hai lứa. Lứa nở ra vào mùa xuân chỉ toàn ong cái, còn lứa sinh vào mùa hạ thì có cả ong cái lẫn ong đực. Dù không dám chắc mọi loài Toái phong đều như vậy, nhưng ít nhất ba loài tôi từng nuôi đều thế. Từ đó, tôi đoán quy luật này là đặc tính chung của phần lớn các loài Toái phong. Hiện tượng kỳ lạ này tôi sẽ dành hẳn một chương riêng ở phần sau để luận bàn. Vào mùa xuân, Toái phong mẹ cô độc một mình xây cất tổ ấm, nhưng khi mùa hạ tới, trong nhà không còn chỉ có mỗi Toái phong mẹ nữa. Căn nhà này đã trở thành nơi cư ngụ của mọi thành viên trong gia đình. Vì thế, Toái phong mẹ chẳng còn là chủ nhân duy nhất của tổ. Dù số lượng buồng tổ dưới lòng đất chừng một tá, nhưng trong các buồng tổ ấy lại chỉ toàn ong cái.
Căn nhà mà Toái phong mẹ gây dựng tuyệt nhiên không phải nơi xập xệ tạm bợ; trái lại, ở đó có một địa đạo thông thoáng, đóng vai trò huyết mạch của cả nơi cư trú. Đường hầm này chỉ cần dọn dẹp sơ qua chút đất đá vụn là có thể tái sử dụng ngay. Có được đường hầm như vậy giúp lũ Toái phong bận rộn tiết kiệm được bao nhiêu thời gian quý báu. Hơn nữa, các buồng tổ ở đáy hang cũng chẳng cần phải xây mới, chúng đều là những gian nhỏ làm bằng đất sét, chỉ cần dùng lưỡi quét lại cho nhẵn thín là xong. Do sự quấy phá của ong ký sinh, số thành viên trong gia tộc Toái phong không quá đông, chỉ khoảng chừng một tá ong cái. Chúng đều chăm chỉ làm lụng, và dẫu không có bạn đời bên cạnh, chúng vẫn có thể tự mình sinh sản.
Tùy theo tỷ lệ chết mà trong số các chị em Toái phong còn sống sót, có chừng sáu bảy con được thừa kế gia sản của mẹ, quyền thừa kế của chúng là ngang nhau. Ngôi nhà do Toái phong mẹ dựng nên là tài sản chung của đàn con, giữa chúng không bao giờ nổ ra tranh chấp vì căn nhà này, tất cả đều có nhận thức rất rõ ràng về điều đó. Các chị em Toái phong ai làm việc nấy, không hề can thiệp lẫn nhau; chúng cùng ra vào căn nhà qua chung một đường hầm mà chẳng hề phát sinh cãi vã xô xát.
Khi những buồng tổ có sẵn không còn đủ chỗ cho cả đàn, các buồng tổ mới sẽ được xây thêm. Nhờ vậy, dưới lòng đất, mỗi con Toái phong non đều sở hữu một gian phòng riêng. Những buồng tổ này đều là công trình độc lập của Toái phong mẹ, mỗi bà mẹ Toái phong đều cặm cụi làm lụng bên cạnh. Mọi ngóc ngách bên trong hang đều thông suốt, không chút vướng víu. Toái phong mẹ vô cùng trân quý căn nhà do chính mình dựng nên, chúng vốn ưa thích cuộc sống đơn độc.
Đàn Toái phong hăng say làm phần việc của mình, tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp, rộn ràng. Chúng ra ra vào vào nơi cửa hang đầy hứng khởi. Ngay lúc bận rộn nhất, ta sẽ bắt gặp những hành động khiến người ta phải trầm trồ khen ngợi. Ong cái sau khi thu lượm phấn và mật giữa các khóm hoa, phấn hoa dính chặt trên chân chúng. Điều này buộc chúng phải bay về buồng tổ nhanh nhất có thể để dỡ phấn xuống, nếu không lớp phấn dính trên chân rất dễ bị rơi rụng do va chạm bất ngờ. Chỉ cần nấn ná lại trước cửa nhà một lát thôi cũng có thể làm tiêu tan công sức thu gom cực nhọc. Vì vậy, miễn là trước cửa không có chướng ngại gì, Toái phong sẽ bay liền một mạch vào thẳng buồng tổ. Song đôi khi tình huống lại đổi khác: có thể vài con Toái phong sẽ lũ lượt kéo về cùng một lúc. Lối đi chật hẹp chỉ đủ cho hai con đã là chen chúc, huống chi là mấy con cùng về. Vả lại, chỉ một va chạm khẽ cũng đủ khiến phấn hoa rớt xuống. Khi đó, ta sẽ thấy Toái phong xếp hàng ngay ngắn trước cửa hang, theo thứ tự trước sau mà lần lượt chui vào, hết sức trật tự. Con nào cũng biết tôn trọng quyền lợi của đồng loại.
Ngoài ra, còn một tình huống khác cũng cho ta thấy được tính kỷ luật của loài Toái phong. Đó là khi một con sắp ra khỏi hang chạm trán một con đang chuẩn bị bay vào. Lúc này, con sắp về buồng tổ sẽ lùi lại vài bước, chừa đủ khoảng trống cho con muốn ra ngoài đi trước. Hai con Toái phong nhường nhịn lẫn nhau, lịch thiệp vô cùng. Tôi còn thấy có những con vừa định cất cánh rời hang, thấy bạn đã hạ cánh ngay trước cửa bèn chủ động lùi sâu vào trong, nhường lối cho con vừa về tới nhà. Sự nhường nhịn vừa trật tự vừa lễ độ ấy giúp gia tộc Toái phong luôn giữ được bầu không khí hòa thuận trong lúc cùng nhau lao động.
Không chỉ giữ trật tự mẫu mực khi ra vào cửa hang, nếu quan sát tỉ mỉ, ta còn phát hiện ra những chuyện cuốn hút hơn thế nhiều. Tôi từng chứng kiến khi một con Toái phong tha phấn hoa về nhà, cánh cửa vốn đang đóng trước tổ bỗng nhiên mở toang ra. Thế là con ong vừa về dễ dàng chui lọt vào buồng tổ. Đợi nó vào trong rồi, cánh cửa ấy lại lập tức khép lại. Tương tự, nếu có con nào muốn ra ngoài, cánh cửa cũng tự nhiên mở ra, đợi ong bay đi khuất mới đóng lại như cũ. Tóm lại, hễ có Toái phong muốn ra hay vào hang, sẽ luôn có một cánh cửa sập sẵn sàng mở ra chào đón. Cánh cửa hình trụ tròn này hệt như một chiếc pít-tông, cứ thụt thò lên xuống nơi miệng hang.
Vậy thứ gì đang điều khiển cánh cửa ấy? Câu trả lời chính là một con Toái phong — một con Toái phong sắm vai người gác cổng. Con Toái phong gác cổng này dùng chính đầu mình làm vật bịt kín đại môn, cái đầu to bè của nó tạo thành một bức bình phong không thể vượt qua ngay trước tiền sảnh. Người gác cổng Toái phong vô cùng mẫn cán, khi không có ai ra vào, nó dùng đầu chặn đứng miệng hang, bất động như tượng. Trừ phi có kẻ nào tới quấy rầy, bằng không nó sẽ giữ nguyên tư thế ấy suốt. Đợi đến khi có đồng loại muốn ra vào, nó mới lùi về phía sau, tới chỗ đủ rộng cho hai con đứng lách qua nhau. Khi đối phương đã ra hoặc vào xong xuôi, kẻ gác cổng lại trở về vị trí cũ.
Chúng ta có thể tận dụng khoảnh khắc ngắn ngủi khi người gác cổng Toái phong này xuất hiện nơi cửa hang để quan sát và miêu tả nó cho tường tận. So với những con Toái phong rong ruổi tìm phấn giữa ngàn hoa, kẻ gác cổng chẳng khác biệt gì về vóc dáng. Điểm khác biệt nằm ở chỗ: y phục của nó chẳng hề tươi tắn, lại còn hói cả đầu. Lông trên mình nó rụng mất gần một nửa, những dải vằn như vằn ngựa vốn thấy ở Toái phong bình thường thì nay trên người nó gần như biến mất không còn dấu tích. Những dải vằn ấy vốn mang sắc nâu và đỏ thẫm vô cùng đẹp mắt. Sở dĩ lông trên mình Toái phong gác cổng rụng sạch như thế, chính là do bị mài mòn trong suốt những tháng ngày bám trụ nơi vị trí gác.
Con Toái phong vĩ đại đang canh giữ tổ ấm ấy chính là Toái phong mẹ, nó chẳng hề lơ là một giây phút nào nơi cửa tổ. Toái phong mẹ già hơn bất kỳ con Toái phong nào khác trong tổ; chính nhờ có nó mới có gia đình này, nó là người khai sinh ra tổ ấm. Ba tháng trước, Toái phong mẹ vẫn còn trẻ trung, thuở ấy nó phải lủi thủi một mình xây dựng cơ đồ, vất vả trăm bề. Khi không còn khả năng sinh sản nữa, nó mới có cơ hội nghỉ ngơi. Cố nhiên, dùng từ "nghỉ ngơi" cho Toái phong mẹ là không thỏa đáng, bởi với cương vị kẻ gác cổng, nó vẫn đang miệt mài lao động. Toái phong mẹ đã dốc cạn sức lực cả đời để cống hiến cho gia đình Toái phong.
Toái phong gác cổng trông coi cửa nhà vô cùng cẩn mật. Lúc này nó đa nghi tột độ, hệt như chú cừu non nói với con sói ngoài cửa: "Cho tôi xem móng vuốt trắng của anh đã, bằng không tôi quyết chẳng mở cửa đâu." Toái phong gác cổng cũng sẽ bảo với kẻ muốn vào hang: "Cho ta xem đôi chân vàng rực đặc trưng của loài Toái phong đã, nếu không ta chẳng mở cửa đâu." Bất kỳ con Toái phong nào muốn vào hang đều phải qua cửa kiểm tra của người gác cổng, nếu không phải thành viên gia tộc, kẻ gác cổng quyết không đời nào cho qua. Một con kiến đi ngang qua gần miệng hang Toái phong, cái gã to gan lớn mật này tò mò muốn biết vì sao mùi mật thơm lừng lại bay lên từ dưới đó. Nhưng Toái phong gác cổng chỉ nhún vai, gáy hơi lay động rồi quát: "Này, lo mà đi đường của mi đi, coi chừng đấy!" Tiếng nạt nộ của kẻ gác cổng đủ khiến con kiến phải tránh xa; nếu con kiến vẫn lì lợm không chịu đi, Toái phong gác cổng sẽ chẳng ngần ngại lao bổ tới. Sau khi trừng trị thích đáng kẻ đáng ghét kia, Toái phong gác cổng sẽ lập tức quay về miệng hang, tiếp tục phận sự bảo vệ tổ ấm.
Khi mùa xuân gõ cửa, sự xâm lấn của ong ký sinh khiến cho các đường hầm của ong đào vằn trở nên trống trơn. Thời điểm này lại là cơ hội ngàn vàng đối với một loài ong có tên Thiết diệp ong. Bởi tính tình vụng về, Thiết diệp ong không tài nào xây dựng được những nơi ở công phu như Toái phong. Vì lẽ đó, Thiết diệp ong chọn cách bắt chước đồng loại, ấy là đi chiếm đoạt. Vừa vặn vào mùa xuân, lối đi của Toái phong bỏ không hoang vắng, Thiết diệp ong liền thừa cơ lẻn vào.
Nó lượn lờ trên bầu trời trấn Toái phong, rình rập tìm kiếm những hang ổ Toái phong để đột nhập, nơi nó có thể chứa những thứ trông như túi da cừu làm từ lá chét của cây keo giậu. Dường như đã tăm tia được một chiếc hang Toái phong ưng ý, Thiết diệp ong toan lao vào. Song tiếng vo vo phát ra trước khi vào hang của Thiết diệp ong đã lọt vào tai người gác cổng Toái phong. Thấy động, kẻ gác lập tức xông ra, làm vài động tác đe dọa đủ khiến Thiết diệp ong phải chùn bước. Lúc này Thiết diệp ong cũng hiểu được ý tứ của Toái phong gác cổng, bèn biết điều bay đi. Đôi khi Thiết diệp ong chưa đợi Toái phong gác cổng ló ra đã thò đầu vào miệng hang, bấy giờ mới chạm mặt kẻ gác. Vừa thấy Thiết diệp ong, Toái phong gác cổng liền xông lên chặn đứng. Một cuộc ẩu đả có thể xảy ra giữa đôi bên, dẫu vậy chẳng mấy kịch liệt. Thiết diệp ong biết mình đã xâm phạm chốn ở của Toái phong nên không mặt dày bám riết lấy nữa, chỉ thoắt cái đã bay đi nơi khác tìm chốn nương thân.
Có một tay trộm lão luyện mang tên Tiêm phúc ong, vốn là loài côn trùng ký sinh của Thiết diệp ong. Tôi từng tận mắt chứng kiến cảnh nó vì nhận nhầm cửa nhà mà hứng chịu đòn tấn công dữ dội từ Toái phong gác cửa. Té ra, con Tiêm phúc ong này cứ ngỡ mình đang lẻn vào tổ của Thiết diệp ong, nhưng nó đã lầm to: nơi nó xông vào lại là nơi ở của Toái phong. Người gác cổng Toái phong vừa thấy kẻ lỗ mãng liền lập tức lao tới tấn công. Cuối cùng, Tiêm phúc ong phải chật vật tháo chạy. Những loài côn trùng khác lỡ lầm đường lạc lối vào tổ Toái phong cũng phải chịu chung số phận.
Toái phong không đội trời chung với những kẻ xâm nhập thuộc giống loài khác, và giữa các Toái phong bà nội với nhau cũng chẳng dung hòa hơn là bao. Tháng Bảy, thị trấn Toái phong rộn ràng một cảnh tượng bận rộn. Trong thị trấn tấp nập ấy, rất dễ phân biệt hai kiểu Toái phong. Một loại là các bà mẹ Toái phong trẻ trung, tràn trề sinh lực; chúng có vũ điệu nhẹ nhàng thanh thoát, vẻ ngoài rạng rỡ, hớn hở bay qua lượn lại giữa các khóm hoa và tổ ấm của mình. Loại kia là các Toái phong bà nội, do già yếu suy kiệt nên vẻ ngoài ủ rũ rã rời. Chúng chậm chạp bay từ miệng tổ này sang miệng tổ khác, nom như thể chẳng tìm ra lối về nhà. Những bà lão Toái phong không chốn dung thân ấy trông vô cùng chán nản.
Vào mùa xuân, do hành vi đáng ghét của loài ong ký sinh, gia tộc Toái phong trở nên vắng vẻ tiêu điều. Đến khi mùa hè tới, người mẹ Toái phong tỉnh giấc đã trở thành một kẻ cô độc thực sự. Mái ấm ban đầu của nó chẳng còn thành viên nào cần nó đứng gác nơi cửa tổ nữa. Thế là mẹ Toái phong rời bỏ nơi cư ngụ do chính tay mình dựng nên, tìm đến những nơi có nhu cầu khác để xin một chân gác cửa. Thế nhưng, các tổ khác từ lâu đã có người trông coi, và những người gác cổng ấy đối xử với bà mẹ Toái phong mới tới bằng thái độ hết sức lạnh lùng. Phải rồi, hai kẻ gác cổng ắt sẽ làm tắc nghẽn miệng hang. Kẻ gác cũ khăng khăng bám giữ vị trí, còn bà mẹ lang thang cô độc kia cũng thèm muốn cương vị này. Lúc ấy, tôi lại thấy hai mẹ Toái phong cãi vã xô xát. Người gác cổng hợp pháp dùng vuốt và đôi hàm lớn để đe dọa kẻ đến tìm việc. Lẽ dĩ nhiên, kẻ lang bạt cũng chẳng chịu yếu thế, nó phản công quyết liệt. Nhưng kết cục muôn thuở vẫn là sự thất bại của kẻ tha hương. Sau đó, bà mẹ Toái phong thất nghiệp lại tiếp tục đi tìm những miệng tổ khác, và một đợt tranh chấp mới lại bắt đầu.
Những hoạt cảnh nho nhỏ như thế giúp tôi hiểu thêm nhiều chi tiết thú vị về tập tính của ong đào vằn. Vào mùa xuân, sau khi xây cất xong tổ ấm, mẹ Toái phong sẽ không ra khỏi hang nữa. Nó có thể làm vài việc nặng nhọc ở tận đáy hang, hoặc cũng có thể sống mơ màng qua ngày đoạn tháng, ngắm nhìn đàn con bận rộn suốt ngày đêm. Khi mùa hè gõ cửa, gia tộc Toái phong bắt đầu nhộn nhịp. Lúc này mẹ Toái phong chẳng còn việc gì để làm, bèn ra miệng hang làm kẻ gác cổng, chỉ cho phép con cái của mình ra vào. Trên cương vị người gác cửa, mẹ Toái phong làm tròn bổn phận, tuyệt đối không nể nang những kẻ ngoại lai toan xông vào nhà. Chừng nào chưa qua sự kiểm tra của mẹ Toái phong, không một ai có thể lọt vào trong hang.
Kẻ gác cổng khi canh giữ cửa ngõ luôn tập trung cao độ, tôi chưa từng thấy bất kỳ người gác nào tự tiện rời bỏ vị trí. Tôi cũng chưa từng thấy chúng bay lên những đóa hoa phía trên mái nhà mình để kiếm chút đồ ăn lót dạ hồi phục sức lực. Công việc gác cổng không quá nặng nhọc, đối với một mẹ Toái phong già nua thì chẳng hao tốn bao nhiêu thể lực. Hoặc giả, đàn con thi thoảng sẽ mớm cho mẹ một chút thức ăn. Song có một điều chắc chắn: dẫu có ăn hay không, mẹ Toái phong cũng tuyệt đối không rời xa tổ ấm.
Lão Toái phong giữ vai trò gác cổng càng cần đến tình thương và niềm vui gia đình hơn bất kỳ thành viên nào khác, nhưng chúng lại dần đánh mất những điều ấy. Ong ký sinh tàn phá tổ ấm, khiến chúng trở thành kẻ vô gia cư đáng thương. Lúc này, mẹ Toái phong hoặc chọn nán lại trong hang của mình, hoặc sẽ cất cánh cho những chuyến ngao du ngắn ngủi. Song trường hợp đầu tiên phổ biến hơn cả. Tính khí của chúng bắt đầu trở nên gắt gỏng, đối đầu với đồng loại và thường xuyên đuổi họ đi. Vì tuổi tác ngày một cao, thân thể không còn cường tráng như thuở xuân thì, số lượng các mẹ Toái phong hao hụt từng ngày, cuối cùng đều già yếu mà chết trong cô độc. Thi thể của mẹ Toái phong trở thành bữa ngon cho loài thằn lằn xám nhỏ, chỉ một hớp là thằn lằn đã nuốt trọn xác mẹ Toái phong vào bụng.
Mẹ Toái phong trông giữ mái nhà cho những đứa con gái của mình, sự tập trung cao độ cùng thái độ cẩn trọng chu toàn của chúng thực sự khiến tôi khâm phục. Càng hiểu sâu về chúng, niềm kính phục trong tôi lại càng thêm sâu sắc. Vào buổi sáng khi ánh nắng chưa đủ gắt, phấn hoa chưa bị hong nóng, lúc này Toái phong chưa cần ra khỏi hang thu lượm. Mẹ Toái phong bấy giờ ghé đầu ngang bằng mặt đất, bịt kín miệng hang nhằm ngăn chặn kẻ lạ đột nhập. Nếu tôi ghé lại quan sát quá gần, mẹ Toái phong sẽ lùi vào trong hang vài bước, ẩn dưới bóng râm của tôi đợi tôi rời đi. Từ sau tám giờ sáng cho tới chính ngọ là khoảng thời gian Toái phong lao động tích cực nhất. Lũ con Toái phong tấp nập ra vào miệng tổ, mẹ Toái phong cũng chẳng quản nhọc nhằn mà làm việc. Nó liên tục mở cửa rồi lại đóng cửa, bận rộn đến mê mải.
Buổi chiều, trời oi bức dữ dội, thợ Toái phong không ra ngoài kiếm phấn hoa nữa mà ở lại trong buồng ong để nhào nặn viên thức ăn hoặc trát mịn lại vách tổ. Thế nhưng mẹ Toái phong không hề ngừng tay, nó vẫn nhẫn nại gác cổng nơi miệng hang, bất chấp cái nóng hầm hập ngột ngạt đến nghẹt thở. Vì sự an toàn của gia đình, mẹ Toái phong quyết chẳng chợp mắt nghỉ trưa. Lúc chập tối, hoặc có thể muộn hơn một chút, sau khi về nhà, tôi xách đèn lồng ra quan sát sinh hoạt của bầy Toái phong. Những con Toái phong mỏi mệt vì cả ngày lao động đã yên giấc, nhưng người gác cổng Toái phong vẫn bám trụ cương vị. Mẹ Toái phong chắc hẳn lo sợ rằng mình vừa rời đi thì kẻ xâm lược sẽ thừa cơ lẻn vào; nó nhận thức được mối nguy hiểm đang rình rập, và chỉ mình nó biết điều đó. Vậy thì, liệu cuối cùng mẹ Toái phong có quay về đáy hang hay không? Căn cứ vào những gì quan sát được, nó quả thực sẽ làm như vậy.
Giá như tổ của Toái phong từ đầu chí cuối đều được mẹ Toái phong tận tụy bảo vệ như thế, thì ngay từ tháng Năm, chúng ắt đã tránh được nạn ong ký sinh xâm lăng. Nếu lũ ong ký sinh to gan liều lĩnh dám bén mảng tới cửa tổ vào thời điểm này, mẹ Toái phong nhất định sẽ tống cổ chúng đi. Nhược bằng chúng còn cố lì lợm ăn vạ không chịu biến, mẹ Toái phong sẽ cho chúng một cái chết thê thảm. Ngặt nỗi lúc này chúng lại chẳng thèm đến, bởi lẽ trước mùa xuân, lũ ong ký sinh vẫn còn đang trong kén nhộng.
Dù ong ký sinh không xuất hiện vào lúc này, nhưng những kẻ sống bám nhờ cướp đoạt công sức của đồng loại như chúng vẫn đầy rẫy ngoài kia. Vậy mà trong suốt quá trình quan sát tổ Toái phong vào tháng Bảy, tôi không hề bắt gặp bất kỳ kẻ cướp nào như thế. Lũ ăn sẵn ấy đã quá rành rẽ tập tính của mẹ Toái phong, xem chừng hôm nay chúng sẽ chẳng dám ló mặt ra nữa.
Mẹ Toái phong già nua không còn phải nhọc lòng vì những nhiệm vụ thời trẻ nữa; lúc này, nó chỉ cần canh giữ cửa nhà. Sự chuyển đổi vai trò này của mẹ Toái phong hé lộ cho chúng ta một điều: ấy là hành vi mới bỗng chốc nảy sinh từ bản năng. Dù nhìn vào hành vi lúc trẻ của mẹ Toái phong hay hành vi của đàn con, ta đều chẳng thể ngờ rằng khi về già nó lại đảm đương công việc gác cổng. Đây thực sự là một thứ tài năng bộc phát bất ngờ. Vào tháng Năm, mẹ Toái phong dồi dào sức sống nhưng lại là một kẻ nhút nhát; thế nhưng khi đã về già, nó lại trở nên bạo dạn khác thường, dẫu rằng thể lực bấy giờ đã suy kiệt. Mẹ Toái phong già nua cô độc đứng nơi cửa nhà canh gác cho đàn con, hành vi của nó hóa ra liều lĩnh bộc trực, dám làm những điều mà thời trẻ chưa từng dám làm.
Hãy cùng nhớ lại thời trẻ của những mẹ Toái phong. Chúng suốt ngày tất bật đi về giữa khóm hoa và buồng ong, chẳng dám làm gì lũ ong ký sinh bám đuôi phía sau. Thuở ấy, mỗi bận giáp mặt ong ký sinh, mẹ Toái phong chỉ chọn cách làm ngơ, mặc cho đối phương muốn làm gì thì làm. Chúng thừa sức trừng trị kẻ ký sinh, song lại chẳng hề ra tay. Những mẹ Toái phong trẻ tuổi luôn chỉ biết cần mẫn cặm cụi làm ăn, không sao khiến lũ ký sinh phải khiếp sợ. Mẹ Toái phong khi ấy vụng về ngờ nghệch đến cùng cực, hoàn toàn chẳng có lấy một chút ý thức cảnh giác hiểm nguy.
Thế nhưng, vừa sang tháng Bảy, người mẹ Toái phong già nua này dường như chỉ qua một đêm đã thấu tỏ sự hiện diện của hiểm nguy, nó thuần thục công việc gác cửa đến khó tin. Mới chỉ ba tháng trước, chúng còn là những kẻ khờ khạo chẳng hay biết gì về hiểm họa, thật khó mà tưởng tượng nổi sự biến chuyển đột ngột đến nhường này. Bất kể kẻ nào toan tính xâm nhập, dù thuộc chủng loài nào, thân hình to hay nhỏ, thảy đều bị mẹ Toái phong chặn đứng ngoài cửa. Nếu những kẻ không biết điều ấy vẫn lì lợm quanh quẩn không chịu rời đi, mẹ Toái phong sẽ chẳng nể nang mà lập tức xông ra tấn công, lao thẳng về phía chúng. Mẹ Toái phong vốn nhút nhát thuở thanh xuân, khi về già lại bạo dạn đến bất ngờ.
Vậy thì, sự chuyển biến này của toái phong mẹ diễn ra như thế nào? Tôi từng muốn đưa ra một lời giải thích cao đẹp: Vào mùa xuân, chúng phải nếm trải nỗi thống khổ chưa từng có, từ đó mới biết nâng cao cảnh giác, nhờ kinh nghiệm dạy dỗ mà học được phẩm chất của một người gác cổng. Thế nhưng trên thực tế, tôi lại buộc phải gạt bỏ lời giải thích ấy sang một bên. Bởi lẽ nếu toái phong nắm được kỹ năng canh cổng nhờ vào kinh nghiệm bản thân, thì cớ sao đối với kẻ xâm nhập, lúc thì nó sợ hãi, lúc lại chẳng hề khiếp sợ? Hồi tháng Năm, do gánh nặng công việc, toái phong mẹ cô độc xây dựng tổ ấm của mình, không có thời gian đứng ra làm kẻ gác cổng. Nhưng từng nếm mùi cảnh nhà tan cửa nát do kẻ xâm lược gây ra, lẽ ra chúng phải nắm được đôi chút tập tính của ong ký sinh. Khi lũ sâu bọ đáng ghét kia lại xuất hiện trước mặt, đúng lý mà nói, toái phong mẹ phải không chút do dự lao vào chúng, hoặc xua đuổi chúng đi. Nhưng sự thật lại chẳng phải thế, toái phong mẹ vẫn giữ thái độ hờ hững với lũ ong ký sinh này, chẳng thèm đoái hoài ngó ngàng.
Nỗi thống khổ mà thế hệ trước phải chịu đựng chẳng thể nào thay đổi được bản tính vốn điềm đạm an hòa của toái phong; sự đổi thay của toái phong mẹ cũng chẳng liên quan gì đến những việc chúng từng nếm trải. Côn trùng và con người đều biết tận hưởng niềm vui, cũng đều phải gánh chịu đau khổ. Thế nhưng côn trùng lại chỉ đắm đuối với lạc thú, chẳng mảy may suy nghĩ về nỗi khổ đau. Lối sống ấy cũng chính là cách hưởng thụ kiểu muông thú dã man. Sự chuyển biến của toái phong mẹ hoàn toàn là do bản năng khơi gợi; bản năng này cho phép toái phong giảm bớt nỗi đau cho bản thân và che chở cho giống nòi ở một mức độ nhất định. Thế nhưng, kinh nghiệm làm người gác cổng của toái phong mẹ lại chẳng vì thế mà truyền lại cho thế hệ kế tục.
Đợi đến khi bầy toái phong suốt ngày kiếm tìm phấn hoa trong bụi rậm đã tích trữ đủ thức ăn trong khoang tổ, chúng sẽ không ra ngoài làm lụng nữa. Song toái phong mẹ già nua lúc này vẫn kiên trì bám trụ ở cửa hang làm nhiệm vụ gác cổng. Vì trong khoang còn cả một lứa toái phong non cần bảo bọc, nên chúng chẳng dám lơ là nửa phần cảnh giác. Mãi đến ngày hang tổ đóng kín, toái phong mẹ mới rời bỏ mái nhà của mình. Chúng sẽ tìm một nơi hẻo lánh khuất nẻo để sống nốt phần đời còn lại. Cả đời bận rộn vất vả, toái phong mẹ tận tụy làm tròn bổn phận, rốt cuộc lại trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách quê người.
Tháng Chín là thời điểm thế hệ toái phong thứ hai bắt đầu hoạt động. Trong lứa toái phong này, ngoài ong cái ra còn có cả ong đực vốn không hề có ở lứa đầu. Trên những bụi cây họ cúc, như cúc gai và xa cúc, tôi từng thấy ong cái lẫn ong đực nô đùa trên đó, trông chúng vô cùng vui vẻ. Vào mùa này, toái phong không cần thu gom phấn hoa, chúng chỉ việc lượn lờ giữa những khóm hoa ăn cho no bụng là được. Đây là mùa giao phối của ong cái và ong đực, chừng hai tuần sau thì ong đực sẽ biến mất. Làm xong sứ mệnh của mình, ong đực tạ thế lìa đời, thế giới toái phong từ đây chỉ còn lại những con ong cái cần cù chịu thương chịu khó. Chúng gánh vác trách nhiệm duy trì nòi giống, cắn răng vượt qua mùa đông giá rét, đón chờ thời khắc lao động vào tháng Tư. Tôi từng ngỡ rằng mùa đông toái phong sẽ nấp vào chốn nương thân nơi mình sinh ra, bởi nơi đó quả là một trại tị nạn tuyệt vời. Song cuộc điều tra vào tháng Giêng mách bảo tôi rằng, giả định ấy hoàn toàn sai lầm. Hang toái phong trống hoang hoác, những ngày mưa dầm dề kéo dài khiến các miệng hang trở nên lầy lội nhơ nhớp. Ong đào vằn có rất nhiều nơi để trú ẩn: trên bờ tường chan hòa ánh nắng, trên những đống sỏi đá vụn, cùng những chốn ẩn náu khác. Tóm lại, khắp hang cùng ngõ hẻm của thị trấn toái phong đâu đâu cũng rải rác bóng dáng của bầy toái phong bản địa.
Tháng Tư là lúc toái phong bắt đầu xây cất tổ ấm, chúng từ bốn phương tám hướng kéo về thị trấn, ra sức đào bới hang hốc của mình. Chúng chọn những lối mòn trong vườn hoa làm địa điểm đào hang, nơi đất đai bị bước chân người giẫm đạp thành ra vô cùng rắn chắc. Công trình xây dựng bắt đầu. Toái phong nối tiếp nhau bới từng mẩu bùn đất, đắp thành những ụ đất nhỏ quanh miệng hang. Có khi trên một khoảng đất chỉ rộng chừng một sải chân, những ụ đất nhỏ ấy lên tới năm mươi cái, nằm sát sàn sạt nhau. Mảnh đất toái phong chọn vào năm sau hoàn toàn khác biệt với nơi chốn của năm trước, chí ít tôi chưa từng thấy con toái phong nào chọn cùng một mảnh đất trong suốt hai năm. Hành vi này khác hẳn với suy đoán của con người, người ta vốn tưởng toái phong sẽ nhờ vào ký ức về nơi chôn nhau cắt rốn mà quay về tổ ấm sau khi mùa đông trôi qua. Sự thực lại chẳng phải vậy. Cứ mỗi độ xuân về, toái phong lại muốn tìm kiếm những điều mới lạ, và những điều mới lạ ấy cũng luôn thừa mứa để thỏa mãn lòng khao khát của chúng.
Người ta có xu hướng nghĩ rằng toái phong tụ tập lại là để duy trì gia tộc cũng như giao lưu với láng giềng. Dĩ nhiên, chẳng có bằng chứng nào bác bỏ được suy nghĩ ấy. Vậy thì, những con toái phong sống cùng trong một thị trấn hay chung một miệng hang có quen biết nhau không? Phải chăng chúng thích cùng nhau làm lụng, chứ không thích làm việc với toái phong ở thị trấn khác hay hang khác? Đương nhiên toái phong có thể kết giao vì lý do ấy, vả lại trong số những loài côn trùng không hiếu chiến, giống loài mang tập tính này cũng rất nhiều. Do ăn uống cực kỳ ít ỏi, lũ sâu bọ nhỏ bé này chẳng cần phải tranh giành thức ăn mà sinh ra đấm đá. Điểm này rất khác với các loài thú lớn. Một số sinh vật có thân hình to hơn một chút sẽ vì một mảnh ruộng hay vài con mồi mà đánh nhau vỡ đầu mẻ trán với đồng loại, loài sói là một ví dụ. Ngoài ra, con người cũng thuộc vào số đó. Con người dựng đại bác nơi biên giới lãnh thổ, lại cắm cọc gỗ khắc dòng chữ: "Bên này ranh giới là đất của tao, bên kia là đất của mày. Chúng ta có thể cầm súng máy xả đạn vào nhau, sự thể là vậy đó." Cuộc chiến tranh không hồi kết ấy rốt cuộc sẽ kết thúc bằng thắng lợi của bên nào cải tiến được vũ khí.
Xem ra lũ toái phong một lòng chuộng hòa bình quả thực vô cùng hạnh phúc. Việc chúng tụ tập lại chẳng mang đến cho chúng lợi lộc gì, bởi chúng không hề cùng nhau dựng nên pháo đài hay hệ thống phòng ngự để xua đuổi kẻ thù. Trái lại, toái phong tuyệt nhiên chẳng đoái hoài, ngó ngàng đến chuyện của hàng xóm láng giềng. Chúng thường đèn nhà ai nấy rạng, chẳng bận tâm đến rắc rối của kẻ khác. Toái phong không mò sang hang kẻ khác, cũng chẳng cho phép ai bước chân vào hang mình. Toái phong có nỗi thống khổ riêng, chúng cũng đơn độc gánh chịu mọi sự. Đối với đau khổ của đồng loại, toái phong tỏ ra dửng dưng vô cảm. Khi thấy đồng loại xảy ra xô xát, nó chỉ biết lảng ra thật xa.
Dĩ nhiên việc toái phong kết thành bầy đàn cũng có cái hay riêng. Nhìn thấy láng giềng hăng say làm lụng, bản thân nó cũng dốc sức làm việc cật lực hơn. Hoạt động tập thể thường khuếch đại năng lượng của từng cá thể, sức mạnh tập thể cũng khích lệ năng lực cá nhân phát triển. Sự lao động của bầy đàn toái phong có thể khơi dậy tinh thần cạnh tranh, khiến cho sinh mệnh của toái phong càng thêm phần giá trị. Rõ ràng, toái phong thấu hiểu điều đó, việc chúng tụ tập lại một chỗ để làm lụng chính là minh chứng rõ ràng nhất. Đôi khi số lượng đông đảo của bầy toái phong khiến chúng ta liên tưởng tới tổ kiến. Một ụ đất khổng lồ mọc lên trên mặt đất, nhìn vào nó có thể gợi cho ta nhớ đến những chốn làm việc cuồng nhiệt và bận rộn: Paris, London, Rome, Carthage, Babylon và Memphis. Dĩ nhiên, với điều kiện là ta tạm thời quên đi sự vĩ đại tương đối của vạn vật.
Tháng Hai là mùa hoa hạnh nhân nở rộ, cái cây ngỡ như đã khô chết này nay lại hồi sinh dưới sự tẩm bổ của dòng nhựa cây. Lớp vỏ cây chết khô đen đúa, mục nát, cành cây hóa thành dải lụa trắng muốt, uốn mình thành vòm mái tráng lệ. Tôi thích dạo bước ra đồng nội tìm kiếm hơi thở của mùa xuân, bởi tôi vô cùng say mê thứ ma thuật diệu kỳ làm vạn vật hồi sinh ấy. Lớp vỏ cây ủ rũ u sầu suốt mùa đông, sau khi được mùa xuân ban phát phép màu liền bừng nở nụ cười. Vào thời khắc tuyệt vời này, tôi rảo bước về phía những cây hạnh nhân giữa cánh đồng, chiêm ngưỡng ngày hội tưng bừng của chúng.
Trước khi tôi tới cánh đồng, đã có vài loài côn trùng ghé thăm trước. Những con bích ong có sừng và bích ong khoác áo đỏ đen đan xen đang viếng thăm những mắt mầm màu hoa hồng trên nụ hoa, tìm kiếm thứ dịch ngọt ngào ngon lành. Một loài toái phong có vóc dáng nhỏ nhắn lọt vào tầm mắt tôi, chúng khoác chiếc áo ngoài vô cùng giản dị, bay lượn giữa những đóa hoa. Chúng bận rộn làm lụng, số lượng đông không xuể. Danh pháp khoa học của loài toái phong này là Nhuyễn thể toại ong. Tôi cảm thấy khó hiểu về người đã đặt tên cho chúng, tôi ngờ rằng khi đặt tên, người nọ chẳng có lấy một chút cảm hứng nào. Phần đuôi bụng của Nhuyễn thể toại ong rất mềm mại dẻo dai, nhưng cái đuôi bụng mềm ấy thì có tác dụng gì chứ? Tại sao người đặt tên lại làm nổi bật phần đuôi bụng trong cái tên của loài toái phong này? Tôi cho rằng cái tên thích hợp hơn dành cho vị khách viếng thăm cây hạnh nhân này phải là Nhuyễn thể toại ong đến sớm.
Tháng Hai là thời điểm cực kỳ lạnh giá, lúc này các loài côn trùng khác vẫn còn ẩn náu tại nơi trú đông của mình. Thế nhưng Nhuyễn thể toại ong lúc này đã ra khỏi hang bắt đầu làm lụng, lòng dũng cảm của chúng quả thật đáng khen. Cũng như ong đào vằn, chúng thích chọn làm tổ trên những con đường mòn thôn quê, hơn nữa còn là những khoảnh đất bị người ta giẫm đạp thành ra rắn chắc. Trong các giống ong làm mật, không có loài ong nào có thể sánh được với độ sớm của Nhuyễn thể toại ong. Ít nhất là ở vùng quanh nhà tôi thì đúng là như vậy.
Khi đào hang dưới lòng đất, Nhuyễn thể toại ong cũng vun lên mặt đất một ụ đất nhỏ, một chiếc vỏ trứng có thể đựng vừa đất của hai ụ như thế. Những ụ đất ấy chất đống trên đường mòn, số lượng vô cùng nhiều. Mang theo nỗi hiếu kỳ của một nhà tự nhiên học, tôi rảo bước trên con đường làng quanh co, con đường này đã bị lừa và xe kéo có mui nghiền nát thành ra rất đỗi bằng phẳng, rắn chắc. Lối đi rộng chừng ba bước chân, bên cạnh có một rặng sồi xanh lùn ngăn cho con đường khỏi bị gió bấc tàn phá. Những ụ đất do Nhuyễn thể toại ong đùn lên tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, chúng đang xây cất tổ ấm trong chốn thiên đường tĩnh mịch này. Số lượng ụ đất nhiều đến nỗi mỗi bước chân tôi đi đều giẫm bẹp vài ba cái. Đương nhiên toái phong ở phía dưới chẳng hề hấn gì, lát sau chúng sẽ từ dưới bò lên, cần mẫn tu sửa lại bậc cửa của mình.
Tôi thử đo đạc mật độ của đàn Toái phong. Nơi tôi ở dài chừng một cây số, rộng khoảng ba bước chân. Kết quả đo đạc cho thấy, trên mỗi mét vuông mặt đất có chừng bốn mươi đến sáu mươi ụ đất nhỏ. Cứ đà tính toán ấy, tôi chẳng dám tưởng tượng nổi nơi này rốt cuộc có bao nhiêu con Toái phong.
Khi nhắc đến loài ong đào vằn, tôi từng dùng từ "thị trấn Toái phong" hay "ngôi làng Toái phong" để miêu tả nơi tụ họp của chúng. Cách ví von ấy với ong đào vằn quả thực rất thỏa đáng. Thế nhưng đối với Nhuyễn thể toại ong, danh xưng "thị trấn Toái phong" dường như chẳng còn vừa vặn, bởi nơi định cư của chúng đã vượt xa quy mô của một thị trấn. Nơi đây có biết bao cư dân sinh sống, tôi nghĩ chỉ có một lý do duy nhất có thể lý giải cho cộng đồng quần cư đồ sộ nhường này, đó chính là sức hút to lớn của cuộc sống tập thể. Thuở ban đầu, xã hội cũng được tạo dựng nên từ những quần thể tụ họp lại với nhau như vậy. Dù giữa loài Toái phong chẳng có thói quen giúp đỡ lẫn nhau, song chúng cũng như bắt chước loài cá trích Đại Tây Dương và cá mòi ngoài biển khơi, cùng nhau duy trì một đời sống bầy đàn.
