Chương 792
Chương 792: La Bàn Kinh
Đăng ngày 30/09/2026
19
Lý Mộc Trần nghe mà mờ mịt cả đầu óc, chuyện này khác quá xa so với truyền thuyết Bạch Xà Truyện thường nghe.
“Đây là bản gốc của Hứa Tiên và Bạch nương tử sao?”
Trí Nhẫn cười đáp: “Đây không phải Bạch Xà Truyện, Bạch Xà Truyện vốn dĩ đã là một câu chuyện khác rồi.”
“Đã là? Nói vậy, một Bạch Xà Truyện khác cũng nằm trong câu chuyện đại sư sắp kể?” Lý Mộc Trần ngạc nhiên.
“Thí chủ chớ vội, hãy uống chén trà, nghe bần tăng kể hết câu chuyện đã.”
Nước trong ấm sắt trên lò vừa sôi, Trí Nhẫn mở nắp ấm, dùng muôi múc từng muôi một cho vào ấm trà. Động tác của ông rất chậm rãi, tay vững như bàn thạch, không để bắn ra dù chỉ một giọt nước.
Khi dòng nước từ vòi ấm trà rót xuống chén, hương trà lập tức lan tỏa ngào ngạt bốn phía.
Lý Mộc Trần vừa ngửi đã nhận ra đây tuyệt đối không phải loại trà phàm tục, e rằng bên ngoài khó lòng thưởng thức được.
“Bạch xà bị đạo nhân chém chết, Nhất Tâm đau đớn đến xé ruột xé gan, liền lao vào liều mạng với đạo nhân. Nhưng hắn từ nhỏ đã tu hành trong chùa, chỉ nghe Phật pháp, chưa từng tu luyện thần thông, sao có thể là đối thủ của đạo nhân. Trước mặt tiên thuật cường đại, hắn nhỏ bé như loài sâu kiến. Đạo nhân thấy tâm hắn không có ác niệm lớn nên không nỡ ra tay sát hại. Song tâm chí hắn quá đỗi kiên định, mặc cho đạo nhân điểm hóa thế nào cũng dứt khoát không nghe. Cuối cùng, nhận thấy báo thù vô vọng, hắn liền nảy ý tìm chết để đi theo bạch xà.”
“Đạo nhân hỏi hắn cớ sao vì một con xà yêu mà ngay cả tính mạng cũng không cần, hắn liền kể đầu đuôi mọi chuyện cho đạo nhân nghe. Nghe xong, đạo nhân than thở rằng cõi trần vô tình, người còn chẳng bằng yêu. Rồi đạo nhân bảo với Nhất Tâm, trong chùa Linh Ẩn có một món thánh vật, năm xưa theo ngọn Phi Lai Phong chuyển dời từ Linh Sơn đến. Vật này có thể dịch chuyển thời không, nếu đoạt được nó rồi kịp thời đuổi theo, biết đâu chừng có thể bắt kịp hồn phách của bạch xà, để hai người gặp lại nhau ở một thế giới khác.”
“Nhất Tâm từ nhỏ lớn lên ở chùa Linh Ẩn nhưng chưa từng nghe nói có bảo vật như vậy, bèn hỏi vật đó tên gọi là gì, hình dáng ra sao? Đạo nhân bảo, vật này tên là Lục Hư Luân Chuyển Bàn, mượn nhờ sức mạnh của lục đạo luân hồi mà hóa thành, dáng vẻ thì giống như một chiếc cối xay. Trên mặt bàn khắc nhật nguyệt đất trời, tinh tú núi sông, lại có cả tám cửa sinh tử, núi trùng quẻ điệp.”
“Nhất Tâm lúc này mới nhớ ra, trong chùa Linh Ẩn quả thực có một chiếc cối xay nằm ở góc sân sau, bên trên khắc những hoa văn kỳ dị. Nhưng từ nhỏ hắn vẫn dùng thứ đó để xay đậu, thỉnh thoảng đem giã thuốc, một món đồ tầm thường đến thế sao lại là bảo vật cho được?”
“Đạo nhân nói, vật này do thần ma cùng đúc nên, ngay cả người tu hành cũng khó thấu triệt được ảo diệu bên trong, huống chi người phàm. Ta ở đây có một cuốn La Bàn Kinh, chính là chìa khóa để giải mở thần chú trên đó. Nếu ngươi có thể lĩnh ngộ thì hãy xoay chuyển hư không, đi tìm hồn phách nương tử của ngươi đi. Dứt lời, ném lại một cuốn kinh thư rồi biến mất không còn tăm hơi.”
“Nhất Tâm mừng rỡ khôn xiết, cảm thấy hi vọng đã mở ra, cũng chẳng kịp xem nội dung cuốn kinh thư ra sao, lập tức lén lút lẻn về chùa Linh Ẩn, ra sân sau trộm mất chiếc cối xay. Hắn mang cối xay về nhà rồi mở kinh thư ra, ngỡ rằng chỉ cần làm theo những gì kinh thư chỉ dẫn là có thể đuổi theo hồn phách nương tử. Nào ngờ khi xem qua kinh thư hắn mới biết, cuốn La Bàn Kinh này thâm sâu khó hiểu vô cùng. Nó không phải sách hướng dẫn sử dụng Lục Hư Luân Chuyển Bàn, mà là một bộ pháp môn tu hành cực kỳ cao thâm.”
“Nhất Tâm mất tròn hai mươi năm mới miễn cưỡng lĩnh ngộ được một hai phần. Hắn không thể đợi thêm được nữa! Nghe đồn đầu thai chuyển thế cứ hai mươi năm là một vòng luân hồi, hai mươi năm đã trôi qua, nếu không đuổi theo thì e rằng vĩnh viễn chẳng thể bắt kịp nương tử của mình. Thế là, hắn làm theo những gì học được từ «La Bàn Kinh», niệm chú ngữ, phát động Lục Hư Luân Chuyển Bàn...”
Trí Nhẫn nói đến đây thì dừng lại.
Vừa vặn một ấm trà đã pha xong, ông lại múc nước từ ấm sắt để tráng trà pha lượt mới.
Lý Mộc Trần không ngờ mình lại được nghe nhắc đến Lục Hư Luân Chuyển Bàn từ miệng hòa thượng Trí Nhẫn.
Kể từ khi lấy được Định Bàn Châm ở Chu gia Kim Lăng để kích hoạt món bảo vật này, hắn vẫn luôn nghiền ngẫm diệu dụng thực sự của chiếc la bàn.
La bàn có thể chuyển dịch hư không, phá giải kết giới, điểm này hắn đã sớm biết. Chỉ là các tầng không gian đối ứng trên đó trùng trùng điệp điệp, hệt như một khối rubik có thể xoay chuyển theo đủ mọi phương hướng. Nếu không có mật mã chuyên biệt, người sử dụng cực kỳ dễ bị lạc lối bên trong.
Nhưng nghe ý của Trí Nhẫn, khối rubik này không chỉ xoay chuyển được không gian, mà ngay cả thời gian cũng có thể dịch chuyển. Đạo nhân kia bảo nó được tạo thành từ sức mạnh của lục đạo luân hồi, nếu quả thực như vậy, uy lực của thứ này biết đâu chừng có thể xuyên thủng kết giới Hoàng Tuyền, đi thẳng xuống Cửu U.
Hoặc giả, quay thẳng về hai mươi năm trước?
Lý Mộc Trần có chút khó tin.
Song hắn tin rằng «La Bàn Kinh» có tồn tại, bởi vì Lục Hư Luân Chuyển Bàn rõ ràng có pháp thuật khống chế chuyên biệt, đặc biệt là phù chú bên trên đòi hỏi phải có sức mạnh tâm niệm đặc thù mới phát động chuẩn xác được.
Hắn không vội lấy la bàn ra, không phải vì không tin Trí Nhẫn, mà cảm thấy bên trong vẫn còn vài điểm đáng ngờ. Chẳng hạn, Trí Nhẫn nói đó là một chiếc cối xay, trong khi thứ trên tay hắn lại là một chiếc la bàn tinh xảo. Nếu hai thứ là một, thì ở khoảng giữa chắc chắn đã xảy ra biến cố gì đó.
Hơn nữa, tại sao Trí Nhẫn lại cố tình kể câu chuyện này cho hắn nghe vào lúc này?
Lý Mộc Trần bưng chén trà nhấp một ngụm, cười hỏi: “Sau đó thì sao?”
Trí Nhẫn không kể tiếp câu chuyện mà hỏi ngược lại: “Thí chủ thấy trà này thế nào?”
“Trà ngon.” Lý Mộc Trần tán thưởng.
“Trà này tên là Vấn Phật, lấy từ cây trà di thực ở Linh Ẩn qua, cũng là giống trà cổ xưa nhất của Tiền Đường. Có điều người đời nay phần lớn không còn biết đến nó nữa. Mấy năm trước, có đoàn chuyên gia đến khảo sát rồi đưa ra kết luận, bảo đây là một nhánh của Long Tỉnh.”
Trí Nhẫn nói tới đây thì bật cười: “Người đời đều biết Long Tỉnh, nhưng chẳng ai hay danh trà Tiền Đường sở dĩ vang xa là nhờ Phật sự hưng thịnh mà lan truyền. Trà hội sớm nhất của Tiền Đường chính là vào lúc Linh Ẩn mới khai sơn. Khi ấy còn chưa có cái tên Long Tỉnh, Lục Vũ ghi chép trong «Trà Kinh» về trà Linh Ẩn, Thiên Trúc, chứ tuyệt nhiên không có tên Long Tỉnh.”
“Trà là linh dược ngậm khí thiêng, không phải nơi linh khí dồi dào thì không sinh trưởng. Trà Tiền Đường thời xưa lấy trà Hương Lâm ở Hạ Thiên Trúc, trà Bạch Vân ở Thượng Thiên Trúc và trà Bảo Vân nơi Cát Tiên Ông luyện đan là nổi tiếng nhất, đời đời đều là cống phẩm dâng triều đình. Mãi về sau này, trà ở Tiền Đường mới đều bị gán cho cái tên Long Tỉnh. Người đời cứ ngỡ là bắt nguồn từ giếng Long Tỉnh ở Tây Sơn, nào hay miệng giếng đó chỉ là gượng ép đặt tên theo. Phong thủy Tiền Đường tụ lại trên một hồ nước xuân, Long Tỉnh thực sự, tức con mắt phong thủy, nằm ở ngay đằng kia.”
Trí Nhẫn chỉ tay về phía mặt hồ Tiền Đường xa xa.
Lý Mộc Trần không cần nhìn cũng biết nơi Trí Nhẫn chỉ chính là Tam Đàm Ấn Nguyệt giữa lòng hồ, khoảng không gian nhỏ hẹp được ba tòa tháp đá vây quanh.
“Nơi đó mới là Long Tỉnh thực sự!”
Lý Mộc Trần ngỡ Trí Nhẫn sắp nói vào trọng tâm, nào ngờ sau khi châm ấm trà mới, ông lại đột ngột đổi giọng, tiếp tục kể chuyện xưa.
“Thời Nam triều, Tiền Đường có thiếu niên tên Nguyễn Úc, xuất thân danh môn, một hôm dạo chơi trên hồ tình cờ gặp ca kỹ Tô Tiểu Tiểu. Nàng Tô Tiểu Tiểu này cũng vốn dòng dõi danh gia, tài nghệ tinh thông, khí chất bất phàm, chỉ vì gia cảnh sa sút mới lưu lạc làm ca kỹ. Nhưng nàng bán nghệ không bán thân, biết bao quan lớn quyền quý nghìn vàng cũng khó mua nổi một nụ cười. Nguyễn Úc vừa gặp đã đem lòng si mê, không thể tự kìm chế, liền ngỏ lời bày tỏ. Tô Tiểu Tiểu thấy Nguyễn Úc tướng mạo hiên ngang, trong lòng cũng mừng thầm, bèn hát tặng chàng:
Thiếp ngồi trên cỗ xe bích du,
Chàng cưỡi ngựa thanh thong dạo bước.
Nơi nào hẹn ước kết đồng tâm?
Dưới bóng tùng xanh đất Tây Lăng.”
“Nguyễn Úc về nhà bèn thưa với cha mẹ, định chuộc thân cho Tô Tiểu Tiểu, nhưng lại bị người nhà kịch liệt phản đối. Cha của Nguyễn Úc nhậm chức ở Kim Lăng, bèn đưa hắn theo, đồng thời định sẵn hôn sự cho hắn với một gia tộc quyền quý chốn Kim Lăng. Nguyễn Úc thà chết không chịu, tuyệt thực để kháng cự. Cha hắn bất đắc dĩ đành phải thả hắn trở về Tiền Đường.”
“Nguyễn Úc vừa về tới Tiền Đường liền vội vã đi tìm Tô Tiểu Tiểu. Đáng tiếc thay, trên thuyền hoa giữa hồ đã chẳng còn bóng dáng nàng đâu, chỉ có dưới rặng tùng bách đất Tây Lăng là mọc thêm một nấm mồ cô quạnh không người trông nom.”
Trí Nhẫn khẽ thở dài, phóng mắt nhìn ra hồ Tiền Đường.
“Yến lượn oanh vờn rợp bóng dương,
Chương Đài thẳng lối đến Tây Hồ.
Xuân hoa thu nguyệt như tìm đến,
Nhà ở Tây Lăng thiếp họ Tô...”
Trên hồ dập dìu người qua lại, nườm nượp từ đê Tô qua đê Bạch.
Nấm mồ cô độc ấy trải qua ngàn năm vẫn lặng lẽ nằm đó. Chỉ là giữa dòng người tấp nập kia, liệu có bóng hình người mà nàng hằng chờ đợi?
“Nhiều năm sau, Nguyễn gia lụi bại, tòa đình viện nguy nga tráng lệ năm nào biến thành chốn dung thân cho phường trộm cắp ăn mày, đồ đạc bên trong đều bị người ta khuân sạch, chỉ còn trơ lại tường xiêu ngói vỡ, một khoảng sân đầy hoang tàn phế tích.”
Trí Nhẫn kể tiếp.
“Đến thời nhà Tùy, có một thương nhân tên gọi Vũ Sĩ Hoạch đi ngang qua Tiền Đường. Trong khu vườn cũ của Nguyễn gia, ông ta phát hiện ra một chiếc cối xay, thấy trên mặt cối có hoa văn kỳ lạ, chữ viết cổ kính, nghĩ bụng đây là món hàng độc lạ nên bèn mang về. Trên đường trở về, ông ta làm quen với Hà Đông Phủ Úy Sứ Lý Uyên, rồi đi theo phò tá khởi binh, tiến về Trường An...”
