Chương 11
Chương 11: Bên trong phòng thi
Đăng ngày 29/09/2026
19
Tiếng chuông trường thi xuyên qua bức tường vây dày cộp, truyền tới đám đông đang sốt ruột đợi chờ bên ngoài, chỉ còn lại những tiếng vang trầm đục.
Trường thi huyện Ninh Dương đặt tại khoảng đất trống phía sau huyện nha, dùng chiếu cói và ván gỗ tạm thời dựng nên hàng trăm gian hiệu xá chật chội, tù túng.
Mỗi gian chỉ đủ cho một người co ro ngồi xuống.
Trên đầu là mái che nắng sơ sài, dưới chân là nền đất ẩm ướt, trong không khí thoang thoảng mùi mực hòa lẫn mồ hôi và nỗi căng thẳng, tạo thành một thứ phong vị kỳ dị.
Cố Từ tìm thấy hiệu xá của mình.
Vị trí chẳng mấy thuận lợi, hơi chếch về hướng tây, sang chiều ắt phải chịu cảnh nắng gắt chiếu thẳng.
Hắn không hề oán thán.
Theo lời tiên sinh dặn dò, hắn lấy từng món đồ trong giỏ thi ra, xếp ngay ngắn trên tấm ván gỗ hẹp.
Bút, mực, nghiên đặt bên tay phải để tiện lấy dùng.
Giấy nháp đặt bên tay trái, còn bánh thịt và ống nước đặt ở góc trong cùng, tránh để va đổ.
Làm xong mọi việc, hắn thẳng lưng, nhắm mắt, bắt đầu điều chỉnh hơi thở.
Một lần hít vào, một lần thở ra.
Mọi ồn ào bên ngoài, mọi tạp niệm trong lòng đều theo hơi thở mà từ từ đẩy ra khỏi thân thể.
Đó là phép tĩnh tâm trước khi thi do Trần Văn truyền dạy.
Mới đầu, trong đầu hắn còn thoáng hiện ánh mắt ngạo mạn của Lý Văn Bác, lời phán xét khinh miệt của Triệu Tu Viễn, cùng nét mặt giận dữ của phụ thân.
Nhưng theo nhịp thở sâu dần, những ý nghĩ hỗn loạn ấy dần dần lắng xuống.
Cuối cùng, trong lòng hắn chỉ còn lại một niệm duy nhất: làm bài.
Khi mở mắt ra lần nữa, ánh nhìn của hắn đã trở nên sáng tỏ khôn cùng.
Cùng lúc đó, ở đầu bên kia trường thi, Trương Thừa Tông cũng tìm được chỗ của mình.
Vận may của hắn còn tệ hơn, gian hiệu xá nằm ngay sát nhà xí, từng cơn xú uế không ngừng xộc tới.
Hắn khẽ nhíu mày, sắc mặt hơi tái. Nếu là trước kia, hoàn cảnh tồi tệ cỡ này đã đủ khiến hắn tâm phiền ý loạn, chẳng thể nào tập trung.
Nhưng hắn nhớ tới lời tiên sinh.
Tiên sinh từng nói, con đường khoa cử vốn là một trường tu hành.
Khảo thí không chỉ có học vấn, mà còn là tâm tính.
Chút trắc trở nhỏ nhoi này nếu còn không vượt qua nổi, mai sau làm sao đối diện sóng gió nơi triều đình, làm sao đương đầu với cảnh nghiêng ngửa chốn quan trường?
Hắn lấy từ trong giỏ thi ra một mảnh vải nhỏ, thấm chút nước lã, cẩn thận lau sạch tấm ván bám đầy bụi đất trước mặt.
Nhìn tấm ván gỗ phẳng phiu sạch sẽ, chút buồn nôn và bực dọc trong lòng hắn dường như cũng bị lau sạch theo.
Tâm trí hắn cũng tĩnh lặng trở lại.
Chỗ ngồi của Chu Thông nằm ở một góc khuất chẳng ai để ý.
Hắn lặng lẽ thu dọn đồ đạc của mình, rồi ngồi yên bất động ở đó.
Dường như hòa làm một với cảnh vật chung quanh.
Hắn không cần gắng gượng tĩnh tâm như Cố Từ, cũng chẳng cần khắc phục trở ngại như Trương Thừa Tông.
Hắn chỉ đang chờ đợi.
Chờ khoảnh khắc phát đề thi.
Rất nhanh sau đó, nha dịch bắt đầu phát đề.
Đề thi là mấy tờ giấy gai thô ráp, in bằng bản khắc gỗ, nét mực đậm nhạt không đều.
Vừa nhận được đề, khắp trường thi lập tức vang lên những tiếng hít sâu và kinh hô kìm nén dồn dập của các thí sinh.
Tràng thứ nhất khảo về thiếp kinh và mặc nghĩa.
Đây vốn là phần cơ bản nhất, không cần hoa mỹ trong khoa cử, khảo nghiệm chính là công phu học vẹt nhớ kỹ.
Trích từ "Tứ Thư Ngũ Kinh" ra một đoạn, hoặc là điền khuyết, hoặc là chép lại.
Thế nhưng đề thi năm nay lại ra cực kỳ hiểm hóc.
Phần trích dẫn không phải những áng văn lớn quen thuộc, mà là rất nhiều chương tiết chú giải vô cùng hẻo lánh, thậm chí là phần chú thích cho lời ngữ lục của vài bậc tiền hiền.
Nhiều thí sinh nhìn thấy đề, đầu óc lập tức trống rỗng.
Bọn họ tuy học thuộc kinh thư làu làu, nhưng chưa từng lưu tâm tới những ngóc ngách không bắt mắt này.
Nhất thời, tiếng thở dài, tiếng vò đầu bứt tai vang lên khắp các gian hiệu xá.
Lý Văn Bác nhìn đề bài, chân mày cũng nhíu chặt.
Hắn tuy đều đã đọc qua, song có những chỗ nhớ không thật rõ ràng. Hắn không dám hạ bút bừa bãi, đành gắng sức tìm kiếm trong ký ức.
Còn phản ứng của ba người Trí Tri Thư Viện khi nhìn thấy đề lại hoàn toàn khác biệt.
Trương Thừa Tông xem đề, trong lòng mừng thầm.
Những chú thích hẻo lánh này, nếu là nửa tháng trước, có đánh chết hắn cũng chẳng nhớ nổi.
Nhưng từ khi dùng phương pháp sổ ghi lỗi sai do tiên sinh dạy, mỗi ngày hắn không chỉ đọc lại chính văn, mà còn phải chỉnh lý cả những phần chú giải liên quan.
Những điểm kiến thức người khác thấy hỗn loạn không đầu mối ấy, trong sơ đồ mạch lạc nơi đầu óc hắn, đều có vị trí vô cùng rõ ràng.
Hắn nâng bút chấm mực, gần như không chút chần chừ, bắt đầu điềm tĩnh viết bài.
Cố Từ lại thầm khâm phục tài tính toán như thần của tiên sinh.
Tiên sinh từng bảo, trên trường thi, đề mục càng cơ bản thì càng dễ xuất hiện dạng hiểm hóc kỳ quái để kéo giãn khoảng cách điểm số.
Bởi vậy, trong các buổi luyện tập thường ngày, bọn họ có một bài tập chuyên dùng những đề bài hẻo lánh này để khảo hạch lẫn nhau.
Tuy hắn không nhớ chắc như Trương Thừa Tông, nhưng phần lớn câu hỏi đều từng xuất hiện trong các buổi thi thử.
Hắn vừa hồi tưởng vừa viết bài, tốc độ cũng cực nhanh.
Người khiến người ta bất ngờ nhất là Chu Thông.
Tốc độ làm bài của hắn lại là nhanh nhất trong cả ba người.
Ký ức của hắn vốn không tồi. Quan trọng hơn, đôi mắt giỏi quan sát kia đã sớm biến từng góc nhỏ trên trang sách thành tin tức để ghi nhớ.
Hắn thậm chí còn nhớ rõ, một đoạn chú giải nọ nằm ở góc dưới bên trái trang sách, bên cạnh còn có một vết mực nhỏ.
Khi phần lớn thí sinh còn đang vắt óc suy nghĩ câu đầu tiên, hắn đã viết xong quá nửa.
Một canh giờ sau, tràng thi thứ nhất kết thúc, nha dịch tiến hành thu bài.
Bầu không khí trong trường thi lúc này đã khác hẳn khi mới khai trường.
Nhiều thí sinh vốn tràn đầy tự tin, giờ đây đều lộ vẻ nặng nề, ủ rũ cụt hứng.
Trái lại, vài kẻ ngày thường không nổi bật nhưng học hành chắc chắn lại lộ vẻ hân hoan.
Nghỉ ngơi chốc lát, tràng thứ hai, cũng là tràng then chốt nhất — sách luận, chính thức bắt đầu.
Đề thi phát xuống, khoảnh khắc nhìn rõ đầu bài, toàn bộ trường thi lại rơi vào khoảng lặng chết chóc.
Nhưng lần này không phải vì đề bài hiểm hóc, mà bởi nó quá đỗi tầm thường.
Đề bài là: Luận về "Quân tử bất khí" trong Luận Ngữ.
Đây là một đề tài quá rộng, quá rỗng, lại quá mức chính thống.
Chính thống đến mức dường như bất kỳ kẻ đọc sách nào cũng có thể dựa vào đó mà viết trôi chảy cả ngàn con chữ.
Song cũng chính vì thế, bài viết mới khó lòng xuất sắc.
Một ngàn thí sinh có thể sẽ viết ra một ngàn bài văn đại đồng tiểu dị.
Muốn nổi bật giữa đám đông ấy, khó như lên trời.
Lý Văn Bác nhìn thấy đề này, trong lòng thoạt đầu thả lỏng, nhưng ngay sau đó lại chùng xuống.
Hắn hiểu rằng, đề này nhìn qua tưởng dễ, thực chất lại khảo nghiệm chân công phu nhất.
Hắn không dám chậm trễ, lập tức bắt đầu cấu tứ, trong đầu lướt qua hàng chục bài giải nghĩa của các bậc danh gia đại sư về đề mục này.
Còn Cố Từ, Trương Thừa Tông và Chu Thông khi thấy đề bài, lại không hẹn mà cùng mỉm cười trong lòng.
Đề bài này, bọn họ thực sự quá đỗi quen thuộc.
Chẳng phải đây chính là đề của bài văn lỗi mà nửa tháng trước tiên sinh đã cho bọn họ mổ xẻ tái lập, tranh biện không biết bao nhiêu lần trong buổi diễn tập công thủ luận lý sao?
Trương Thừa Tông không chút do dự.
Hắn cầm bút, trên giấy nháp nhanh chóng dựng nên khung sườn tam đoạn luận đã thuộc nằm lòng.
Là gì? Quân tử bất khí, nghĩa là người quân tử không thể giống như đồ dùng, chỉ có một công năng cố định.
Tại sao? Bởi vì quân tử cần thông tỏ đạo lý vạn vật để ứng phó với mọi biến chuyển của thiên hạ.
Làm thế nào? Phải lấy tu thân tề gia làm gốc, cuối cùng đạt tới đại nguyện trị quốc bình thiên hạ.
Bài văn của hắn có lẽ không có văn tài kinh diễm, nhưng kết cấu vững vàng, mạch lạc rõ ràng, vượt xa người thường.
Cố Từ lại chọn cách viết táo bạo hơn.
Trên nền tảng tam đoạn luận, hắn đưa thêm vào luận chứng thuận nghịch. Ban đầu hắn bàn về tác dụng chuyên sâu của đồ vật, tầm quan trọng của nó trong từng lĩnh vực cụ thể, sau đó ngòi bút chuyển hướng, chỉ ra hạn chế của đồ vật, cuối cùng dẫn tới tầng ý cảnh cao hơn: quân tử phải "bất khí" để ngự trị đồ vật.
Bài văn của hắn ngập tràn màu sắc tư biện.
Còn Chu Thông lại một lần nữa thể hiện lối tư duy độc đáo của mình.
Hắn không bắt đầu từ góc độ của quân tử, mà đi ngược lại, khởi đầu luận thuật từ chính góc độ của "đồ khí".
Hắn chia bài văn làm ba phần.
Phần thứ nhất: Luận về gốc rễ của "khí".
Thế nào là khí? Đã là đồ khí ắt có công dụng riêng, giữ trọn chức trách riêng, đó là trật tự của vạn vật trong trời đất.
Phần thứ hai: Luận về cái hại của "khí".
Thế nào là hại?
Nếu người người đều chỉ làm "đồ khí", an phận một góc, không màng tiến thủ, xã hội sẽ đình trệ, quốc gia ắt lâm nguy.
Phần thứ ba: Luận về đạo "bất khí". Thế nào là bất khí?
Không phải vô dụng, mà là đại dụng.
Quân tử phải có năng lực như lò luyện gang, thu nạp đồ khí của vạn vật đúc chung vào một lò, rồi sau đó mới rèn nên "đại khí" kinh thiên vĩ địa.
Bài văn của hắn không có một từ ngữ hoa mỹ, nhưng mạch lạc chặt chẽ, lớp lang tầng tầng tiến tới, kết luận đưa ra sau cùng lại chấn động lòng người.
Thời gian chầm chậm trôi qua.
Khi tiếng chuông báo hiệu kết thúc tràng thi thứ hai vang lên, ánh nắng ngoài song cửa đã ngả dần về tây.
Trần Văn đứng bên ngoài trường thi, từ lúc sáng sớm tới khi bóng tà buông xuống, hắn đã đứng trọn một ngày.
Hắn nhìn cánh cổng lớn đóng chặt, ánh mắt phẳng lặng như tờ.
