Chương 37
Chương 37: Tranh tài hoa
Đăng ngày 29/09/2026
19
Kỳ thi thứ nhất gồm thiếp kinh và mặc nghĩa kết thúc, sau một lát nghỉ ngơi ngắn ngủi, tiếng chuông trong cống viện lại vang lên lần nữa.
Tràng thứ hai, thi phú chính thức bắt đầu.
So với tràng thứ nhất khô khan buồn tẻ, bầu không khí của tràng này rõ ràng sống động hơn nhiều.
Thơ từ ca phú xưa nay vốn là vũ đài tốt nhất để văn nhân phô diễn tài tình.
Nhất là đối với những con em thế gia có gia học uyên thâm, từ thuở nhỏ đã được danh sư chỉ điểm, đây càng là cơ hội ngàn vàng để kéo dãn khoảng cách với các sĩ tử khác.
Đề thi được phát xuống.
Đề thơ năm nay trích từ một câu thơ Đường.
"Thanh sơn nhất đạo đồng vân vũ." (Núi xanh cùng một dải mây mưa)
Đầu đề không quá xa lạ hiểm hóc, nhưng tuyệt đối chẳng hề nông cạn.
Vừa có thể tả cảnh, ký thác tình cảm non sông.
Lại có thể vịnh hoài, cảm thán nhân sinh tao ngộ.
Càng có thể suy rộng ra, luận bàn đạo lý gia quốc thiên hạ.
Cách lập ý ra sao, chính là ngưỡng cửa đầu tiên phân định cao thấp.
Trong hào xá, Lục Văn Hiên nhìn thấy đầu đề này, khóe miệng khẽ nhếch lên.
Thi phú vốn là lĩnh vực hắn sở trường nhất.
Hắn hầu như không chút do dự, trong bụng đã sớm thành hình bản thảo.
Hắn quyết định từ "cảnh" nhập đề, rồi chuyển sang vịnh "sử".
Mượn sự vĩnh hằng của núi xanh để cảm thán hưng vong dâu bể của các vương triều.
Lập ý rộng lớn, khí thế bàng bạc.
Đây chính là lối hành văn hắn nắm chắc nhất.
Hắn nhấc bút, thấm đẫm mực đậm, lập tức phóng bút múa trên mặt giấy.
Ở phía bên kia, Cố Từ nhìn đề thi này cũng rơi vào trầm tư.
Nếu đổi lại là ngày trước, hắn nhất định sẽ chọn cùng một lối đi như Lục Văn Hiên.
Thậm chí, hắn còn tự tin từ chương của mình sẽ càng thêm hoa mỹ lộng lẫy hơn đối phương.
Thế nhưng lúc này, thứ hiện lên trong đầu hắn lại chẳng phải chuyện cũ tiền triều, cũng không phải nỗi hưng phế của lịch sử.
Mà là cảnh tượng ngày ấy nhìn thấy trên bến đò bến sông Tần Hoài.
Những phu kéo thuyền đang giãy giụa trong bùn lầy.
Những con thuyền chở lương chao đảo trôi nổi giữa phong ba bão táp.
Họ cùng ngọn núi xanh kia, há chẳng phải cũng đang sống dưới cùng một khoảng mây mưa đó sao.
Một ý niệm dần trở nên rõ ràng trong lòng hắn.
Hắn nhấc bút lên.
Nhưng hắn không lập tức làm thơ.
Mà trước tiên viết một đề mục khác.
Phần văn ứng dụng.
Đề văn ứng dụng năm nay là một bài hịch văn.
Giả định biên cảnh phía bắc bị một toán quân Bắc Địch quấy nhiễu, cướp bóc thôn làng, hãy lấy danh nghĩa Huyện lệnh Ninh Dương viết một bài hịch văn để hiểu dụ quân dân đồng lòng chung mối thù.
Đề này thử thách rất lớn năng lực soạn thảo công văn và sức cổ động lòng người bằng câu chữ của sĩ tử.
Lục Văn Hiên viết rất nhanh.
Hắn dẫn kinh điểm điển, từ ngữ hoa lệ, biền bốn ngẫu sáu, viết một bài hịch văn hệt như lời hiệu triệu xuất chinh, tràn đầy sát khí gươm giáo ngựa sắt.
Viết xong, bản thân hắn cũng lấy làm vừa ý.
Còn Cố Từ lại viết rất chậm.
Hắn không dùng bất kỳ từ ngữ hoa mỹ nào.
Hành văn của hắn viết vô cùng bình dị.
Bình dị đến mức tựa như đang chuyện trò việc nhà.
Trước hết hắn viết về sự tàn bạo của giặc Bắc Địch.
Viết về những thôn làng bị cướp phá hóa thành đất cháy.
Viết về cảnh muôn dân phiêu bạt đói khát khóc than tìm miếng ăn.
Kế đó, ngòi bút của hắn chuyển hướng, bắt đầu viết về Ninh Dương.
Viết về cảnh Ninh Dương trù phú, viết về bá tánh Ninh Dương an cư lạc nghiệp.
Viết ngoài thành ruộng tốt muôn khoảnh, viết trong thành hàng quán san sát.
Sau cùng, hắn mới cất lời chất vấn.
"Dân chốn biên cương phía bắc cũng là dân của Đại Hạ ta. Nỗi đau nơi phương bắc cũng chính là nỗi đau của Ninh Dương ta."
"Tổ chim đã lật, há còn trứng lành?"
"Hôm nay các ngươi không vì phương bắc mà chiến, ngày mai liệu có ai sẽ vì các ngươi mà chiến đấu?"
Bài văn của hắn không một khẩu hiệu đao to búa lớn, không một lời lẽ hào hùng rỗng tuếch.
Cả thiên chỉ toàn là những phép đối chiếu mộc mạc nhất và những lời chất vấn trực diện nhất.
Thế nhưng mỗi một con chữ dường như đều mang theo một sức mạnh đánh thẳng vào lòng người.
Hắn viết xong, tự mình đọc lại một lượt, cũng cảm thấy phong cốt khác hẳn ngày xưa.
Sau đó, hắn mới quay lại bắt đầu đặt bút viết bài thơ kia.
Hắn đã có chủ ý.
Thứ hắn muốn viết không phải núi xanh của đế vương tướng lĩnh.
Mà là núi xanh của vạn dân trăm họ.
...
Thời gian lặng lẽ trôi qua trong trường thi.
Khi tiếng chuông báo hiệu tràng thi thứ hai kết thúc vang lên, tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng.
Các sĩ tử bước ra khỏi hào xá, tụm năm tụm ba xúm lại, phấn khởi bàn tán.
"Văn Hiên huynh, bài thơ núi xanh của huynh viết mang ý cảnh thế nào? Có thể cho bọn đệ bái đọc đôi chút chăng?"
Lục Văn Hiên phe phẩy quạt xếp, trên mặt mang theo nụ cười tự tin, cất cao giọng ngâm bài thơ của mình.
"... Cung khuyết tiền triều nay đâu tá, chỉ còn núi biếc bạn mưa chiều."
Câu thơ thê lương rộng mở, ý cảnh cao xa, lập tức nhận được một tràng tán thưởng vang dội.
"Thơ hay! Thật là tuyệt tác!"
"Bài này của Văn Hiên huynh nhất định đứng đầu bảng thi phú lần này!"
Lục Văn Hiên hưởng thụ sự vây quanh tâng bốc của đám đông, song ánh mắt lại dõi tìm bóng hình khiến hắn bận tâm trong biển người.
Hắn đã nhìn thấy Cố Từ.
Cố Từ đang đứng cùng các bạn đồng môn của mình, lẳng lặng lắng nghe.
Trong lòng Lục Văn Hiên khẽ động, dứt khoát chủ động cất bước đi tới.
"Vị Cố huynh này." Hắn mỉm cười chắp tay, "Chẳng hay đại tác của huynh mang khí tượng thế nào?"
Hắn đây là muốn phân cao thấp ngay trước mặt bàn dân thiên hạ.
Ánh mắt của mọi người đều đổ dồn về phía này.
Cố Từ nhìn hắn, không hề sợ sệt rụt rè, chỉ bình thản đáp: "Chẳng dám nhận là đại tác. Chỉ là nét chữ nguệch ngoạc mà thôi."
Hắn dừng lại một chút, rồi cũng chậm rãi cất giọng ngâm bài thơ của mình ra.
"Thanh sơn nhất đạo đồng vân vũ, tiếng hò phu kéo lọt vào tranh."
Câu thứ nhất của bài thơ nghe hết sức bình thường.
Thế nhưng câu thứ hai cất lên lại khiến tất cả mọi người có mặt tại đó đều sững sờ.
Tiếng hò kéo thuyền?
Đây là thứ ý tượng dung tục đến bực nào mà dám đem vào thơ?
Làm thơ xưa nay coi trọng phong hoa tuyết nguyệt, ngư tiều canh mục tao nhã.
Đã từng có ai đem phường phu phen mồ hôi nhễ nhại hôi hám viết vào trong thơ bao giờ?
Trên mặt Lục Văn Hiên thoáng hiện vẻ kinh ngạc, rồi rất nhanh biến thành một nét giễu cợt.
"Thơ này của Cố huynh quả là mới lạ." Hắn lắc đầu, "Chỉ là, thanh âm của hạng buôn gánh bán bưng e rằng chẳng phải nhã âm, đưa vào thi ca e rằng đã rơi vào hạ thừa rồi."
Đám bạn hữu phía sau hắn cũng hùa theo cất tiếng cười ồ.
Cố Từ không hề nổi giận, hắn chỉ nhìn Lục Văn Hiên rồi hỏi ngược lại một câu.
"Lục huynh có biết, miếng ăn trong miệng, tấm áo trên người chúng ta đều từ đâu mà ra chăng?"
Lục Văn Hiên ngẩn người.
Cố Từ nói tiếp: "Chính là nhờ vạn ngàn kẻ buôn thúng bán bưng, nhờ vô số phu kéo thuyền cùng thợ dệt vải, từng giọt từng giọt, từng tấc từng tấc nhọc nhằn làm ra."
"Thánh nhân có dạy, dân là nước, vua là thuyền."
"Kẻ đọc sách chúng ta tự phụ là rường cột nước nhà, thế nhưng đối với muôn dân đích thực lại mắt nhắm tai ngơ."
"Mở miệng là gia quốc thiên hạ, nhưng lại chẳng biết đến củi gạo dầu muối."
"Lục huynh, huynh không cảm thấy như vậy mới đích thực là rơi vào hạ thừa sao?"
Cố Từ hỏi thẳng thừng một câu.
Lời này khiến Lục Văn Hiên chấn động cả người.
Nụ cười trên mặt Lục Văn Hiên hoàn toàn biến mất.
Hắn nhìn Cố Từ trước mắt, chỉ thấy đối phương trở nên vô cùng xa lạ.
Đây đã không còn là thiếu niên ở chốn khách điếm từng vì vài câu châm chọc mà đỏ mặt tía tai nữa rồi.
Trong lời lẽ của đối phương đã có thêm một thứ.
Một thứ trầm dày vững chãi mà hắn chưa từng thấy bao giờ.
Tiếng cười cợt xung quanh cũng dần dần lắng xuống.
Những sĩ tử ban nãy còn đang chế giễu "tiếng hò phu kéo", lúc này đây thảy đều chìm vào im lặng.
Họ nhìn Cố Từ, rồi lại tự nhìn lại bản thân.
Họ bỗng nhiên nhận ra, những từ chương hoa lệ chất chứa trong bụng mình, đứng trước câu chất vấn mộc mạc kia của đối phương lại trở nên nhợt nhạt đến nhường này.
Đúng lúc đó, một bóng người béo núc ních chen ra khỏi hàng ngũ của Trí Tri Thư Viện.
Chính là Vương Đức Phát.
Hắn gãi gãi đầu, có chút ngượng ngùng nói: "Cái đó... đệ cũng có làm một bài, chẳng hay có nên đọc ra không nữa."
Mọi ánh mắt đều tập trung lên người thiếu niên mập mạp trông có vẻ ngây ngô chất phác này.
"Ồ? Vương huynh cũng có đại tác sao? Mau mau đọc cho mọi người cùng nghe!" Có kẻ cất tiếng ồn ào giục giã.
Vương Đức Phát hắng giọng, dùng chất giọng sặc mùi phố chợ bình dân của mình cất tiếng ngâm.
"Núi xanh sừng sững ở đằng kia."
"Mây mưa bảo đổ liền chảy đìa."
"Phu kéo thuyền chi đầm đìa mồ hôi."
"Chẳng bằng về nhà húp bát cháo thôi."
Bài thơ vừa dứt, toàn trường lặng ngắt như tờ.
Ngay sau đó, một tràng cười ngả nghiêng kinh thiên động địa bùng nổ khắp nơi.
