Chương 18
Chương 18: Quyển 2: Ta tự vung đao cười hướng trời, đi ở can trường hai Côn Lôn
Đăng ngày 29/09/2026
19
Sau loạt tiếng súng đó, cả làng lập tức bị đánh thức.
Chúng tôi vừa về đến đầu làng, bố mẹ tôi cùng bố mẹ Lý Đại Phú lại giống như ba năm trước, dẫn theo cả làng túa ra.
"Đại Phú? Cửu Oa? Nửa đêm nửa hôm hai đứa mày đi đâu đấy?"
"Thằng này, nửa đêm vác súng của tao đi làm cái gì?"
"Ối mẹ ơi! Chúng... chúng mày giết người à?"
Dân làng thoáng thấy bàn tay đứt lìa tôi cầm, sợ đến hét toáng lên.
Tôi với Lý Đại Phú vốn là hai đứa nghịch ngợm có tiếng trong làng, nhất là thằng Đại Phú, mặt mũi bặm trợn chẳng khác gì trùm xã hội đen Đông Bắc, bảo giết người người ta tin ngay.
Nhưng người phản ứng dữ dội nhất lại là ông nội vừa chen qua đám đông chạy tới.
"Lãng Cửu Tâm! Mày...!"
Nhìn thấy bàn tay đứt, mắt ông trợn trừng, chưa dứt lời đã bật khóc nức nở như ân hận tột cùng.
Ông từng là người lính giết giặc không chớp mắt, thật lòng mà nói, đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy ông khóc.
"Trời ơi, ngày đó sao tôi lại không nghe lời Lý Tồn Nhân chứ!"
Lại là Lý Tồn Nhân. Đây là lần thứ hai tôi nghe thấy cái tên này từ miệng ông. Người này rốt cuộc có quan hệ gì với gia đình tôi?
Thấy vậy, Lý Đại Phú tập tễnh cõng đứa bé gái đang hôn mê đến trước mặt Vương Trụ Tử.
"Tụi cháu không giết người. Tụi cháu đoán đêm nay thể nào cũng mất thêm đứa nữa nên mới ra chòi cỏ mai phục, ai ngờ đợi được một thứ thật."
Người Lý Đại Phú to béo vạm vỡ quá, thành ra nãy giờ không ai để ý thấy đứa bé sau lưng nó.
Vương Trụ Tử nãy giờ đứng xem trò vui bên cạnh, vừa thấy con mình thì mặt mày biến sắc!
"Đây... là hai đứa mày cứu Tình Oa nhà chú à?"
Bà con trong làng có thể không xấu tính nhưng hay lắm mồm nhiều chuyện. Lý Đại Phú vì tướng mạo bặm trợn nên xưa nay chẳng được lòng ai.
Vừa rồi trong đám đông đã có mấy bà già xì xào to nhỏ, bảo nhìn thằng Đại Phú đã chẳng ra cái giống gì, sớm muộn cũng bị xử bắn.
Lý Đại Phú quét mắt nhìn mọi người, hừ lạnh: "Không tụi cháu cứu thì ai vào đây? Cháu với Cửu Oa suýt mất cả mạng, mấy người biết không hả?"
"Chú... chú cảm ơn hai đứa!"
"Đêm nay may nhờ có hai đứa, chứ Tình Oa mà có mệnh hệ nào thì vợ chồng tao sống sao nổi trời ơi!"
Dứt lời, hai vợ chồng Vương Trụ Tử quỳ rạp xuống, dập đầu tạ ơn chúng tôi.
Nghe bảo chúng tôi cứu người từ tay kẻ bắt cóc, hiểu lầm tày trời bấy giờ mới được gỡ bỏ.
Ông nội nghe rõ sự tình, vẻ tuyệt vọng trên mặt mới tan đi, nhưng nét nặng nề thì chẳng hề vơi bớt.
Ánh mắt già nua cứ nhìn chằm chằm vào tôi, như đang hối hận điều gì.
Tiếp đó, mấy nhà có con nhỏ trong đám đông liền giục: "Cửu Tâm, Đại Phú, đứa bắt cóc chạy đằng nào rồi? Nhân lúc mọi người đông đủ ở đây, đuổi theo đi, nửa đêm nửa hôm nó chắc chắn chưa chạy xa được đâu."
"Đúng đấy, khó khăn lắm mới đụng phải, không nhân cơ hội này tóm lấy thì sau này sợ không còn dịp nữa đâu."
Dù sao chỉ có nghìn ngày làm giặc, chứ ai phòng giặc nghìn ngày?
Ai nấy thấy tôi chặt được một cánh tay mang về, đều nghĩ kẻ bắt cóc chẳng thể đi xa.
Tôi thầm cười khổ, nếu là người thật thì đã bị bắn chết mẹ nó từ lâu rồi, tôi việc gì phải vác một cánh tay về làm chi?
Nhưng chưa đợi tôi mở miệng phân trần, ông nội đã chống gậy chậm rãi bước ra, nghiêm mặt đảo mắt nhìn quanh dân làng một lượt.
"Nhìn cho kỹ xem đây là tay của cái thứ gì rồi giải tán về ngủ hết đi. Sáng mai sang nhà tôi họp."
Ông lịch duyệt đầy mình, vừa thấy mấy cái móng tay nhọn hoắt như móng vuốt dã thú là trong lòng đã có đáp án.
Nhưng lúc bấy giờ mới là năm 1982, cơn điên cuồng của xã hội mấy năm trước vừa qua, thân phận của ông lại nhạy cảm nên ông không muốn là người đầu tiên khơi mào nói ra mấy chuyện đó.
Cứ để sáng mai dân làng tự nói ra trước, khi ấy bàn kỹ cũng chưa muộn.
Dứt lời, ông túm tay tôi lôi về hướng nhà mình.
Cùng lúc đó, mấy người trong làng ghé đuốc lại gần nhìn thử, lập tức sợ đến ngã ngồi bệt xuống đất.
"Mẹ ơi! Có... có người chết phạm tang rồi!"
"Hóa... hóa ra bấy lâu nay là cương thi hại lũ trẻ trong làng!"
Đến khi mọi người hoàn hồn thì cả nhà tôi đã đi xa.
Còn chuyện phạm tang mà họ nói, ở chỗ chúng tôi nghĩa là thi biến! (Chuyện này tạm gác lại ở đây, lát nữa tôi sẽ giải thích cặn kẽ thế nào mới là cương thi thực sự.)
Cứ thế, tôi theo ông nội và bố mẹ về đến nhà. Được ông đưa mắt ra hiệu, bố mẹ tôi mới mang vẻ mặt đầy lo âu về phòng ngủ.
"Ông ơi... dao của ông..."
Dưới ánh đèn vàng vọt, nhìn vào đôi mắt đục ngầu sâu thẳm của ông, tôi hơi thấp thỏm đưa thanh đao ra.
Ông không nhận đao, im lặng một lát rồi vỗ mạnh lên vai tôi, cười bảo: "Thằng nhóc mày khá đấy, cứu được người từ tay người chết cơ à."
Tôi hoảng hồn, tưởng ông nói mỉa rồi nổi giận, liền quỳ sụp xuống đất: "Ông ơi, sau này cháu không dám nữa đâu, ông đừng giận."
Từ bé tôi đã quen bị ông đòn roi nên chẳng sợ ăn đòn. Chỉ là chẳng hiểu sao năm ngoái sức khỏe ông còn rất tốt, sang năm nay vừa qua Tết đã lăn ra ốm một trận thập tử nhất sinh, tôi rất sợ làm ông giận lại tái phát bệnh.
Nhưng điều tôi vạn lần không ngờ tới là ngay sau đó, ông lại khom lưng già nua, một tay đỡ tôi đứng dậy.
"Thằng ngốc, mày cứu người thì có gì mà không dám. Lần sau gặp lại cứ cứu tiếp cho tao."
Tôi dò xét nhìn trộm ông một cái, ông vẫn ngoác miệng cười, nụ cười tràn ngập vẻ tự hào. Ngoài ra, sâu bên trong còn ẩn chứa một sự thanh thản, chỉ là lúc ấy tôi chưa hiểu được.
Thấy ông công nhận mình, cái lưng vốn đang gù xuống của tôi lập tức thẳng tắp. Tôi hào hứng như nộp bài thi cho thầy giáo, kể sạch sành sanh mọi chuyện hôm nay cho ông nghe.
"Hì hì, ông không biết đâu, lúc đối mặt với thứ đó, cháu cảm giác y như đang ra trận giết giặc Nhật bảo vệ đất nước ấy..."
Bên ngoài sân vắng lặng, ông mỉm cười, ngồi trên ghế đá lắng nghe say sưa.
"Tốt, tốt lắm! Đúng là con cháu họ Lãng tao, không đánh mất bản lĩnh đàn ông. Đất nước này sở dĩ có thể dựa vào mấy khẩu súng rỉ pháo cùi mà đánh đuổi hết lớp giặc ngoại xâm này đến lớp khác, chính là nhờ vào những kẻ thất phu như chúng ta, gặp địch mạnh dù biết không địch nổi nhưng vẫn dám tuốt đao ghìm ngựa. Tuổi già này được thấy thằng nhóc mày cứng cỏi như vậy, tao có nhắm mắt xuôi tay cũng yên lòng."
Nói tới đây, nét mặt ông tràn đầy thỏa mãn, nhưng nghe câu ấy, sống mũi tôi bỗng cay xè.
Nhưng tôi không nói gì cả, tính tôi vốn chẳng giỏi biểu đạt cảm xúc.
"Thôi, ngủ sớm đi. Nửa đêm rồi, còn mấy tiếng nữa là trời sáng."
Ông chống gậy đứng dậy, chắp tay sau lưng chuẩn bị về phòng.
"Ông ơi, dao của ông."
Ông đứng khựng lại ở cửa, rồi quay người cười sảng khoái nhìn tôi.
"Ngã tự hoành đao hướng thiên tiếu, khứ lưu can đởm lưỡng Côn Luân."
"Cầm đao đi, đời này hãy làm một hiệp khách hành hiệp trượng nghĩa."
Nói xong, ông cười rồi rời khỏi sân, thanh Đường đao này từ nay cũng thuộc về tôi.
Lúc đó tôi còn buồn cười, bụng bảo dạ chắc ông già ít học, thấy hai câu thơ này nghe khí thế nên trích bừa.
Nhưng mãi nhiều năm sau, trải qua bao nhiêu thăng trầm, quay đầu ngẫm lại hai câu thơ ấy, tôi mới thấu hết ý tứ sâu xa.
Thật là một câu... Ngã tự hoành đao hướng thiên tiếu, khứ lưu can đởm lưỡng Côn Luân!
